Hotline: 0982.425.489
 

Sắn 5/2019 - Tại Tây Ninh, sang tháng 5, giá quay đầu giảm 100 đồng/kg so với tuần cuối tháng 4

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 05/2019

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Tính đến ngày 15/05/2019, tổng diện tích sắn gieo trồng trên cả nước đạt 218,3 nghìn ha, tăng 57,4% (tương đương 79,6 nghìn ha) so với tháng trước nhưng giảm nhẹ khoảng 3,9% so với cùng kỳ năm 2018

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 04/2019 giảm rất mạnh khi chỉ đạt trên 12.000 tấn, giảm 41.000 tấn so với tháng trước và đạt tương đương so với cùng kỳ tháng 4 năm 2018. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Campuchia chỉ đạt gần 338.000 tấn, giảm 21,4% (tương đương khoảng 91.700 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 04/2019 2019 cũng giảm rất mạnh so với tháng trước khi chỉ đạt 35.000 tấn, tuy nhiên tăng 21.000 tấn so với tháng 04/2018. Tính chung từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt trên 468.500 tấn, tăng 13,2% (tương đương khoảng 54.500 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

2. Xuất khẩu

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam trong tháng 05/2019 chỉ đạt 145,9 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt 58 triệu USD, giảm 39,3% cả về lượng lẫn giá trị so với tháng trước và giảm tới 34,7% so với cùng kỳ tháng 5 năm 2018. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt gần 1,07 triệu tấn, thu về lượng kim ngạch đạt trên 409 triệu USD, giảm 18,6% về sản lượng và giảm 12,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

- Tổng sản lượng xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong kỳ từ ngày 01-29/05/2019 chỉ đạt trên 16.500 tấn, giảm tới 60% so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước. Tính chung từ ngày 01/01-29/05/2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 180.000 tấn, giảm 320.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh ở cả kênh xuất khẩu đường biển lẫn biên mậu. Theo đó, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu trong 29 ngày đầu tháng 05/2019 chỉ đạt 112.000 tấn, giảm 82.000 tấn so với cùng kỳ  tháng trước và thấp hơn khoảng 47.000 tấn so với cùng kỳ tháng 5/2018.

Giá cả

1. Sắn lát

- Tại khu vực miền Bắc, giá sắn lát bán về các nhà máy TACN tại Hưng Yên, Hải Dương đang được cho quanh mức 4.900-5.000 đồng/kg. Giá mì lát giao tại cửa khẩu khu vực Lạng Sơn được 5.050 đồng/kg với hàng cồn và 5.400 đồng/kg với hàng cám.

- Tại Quy Nhơn, giá hàng lưu kho được đẩy tăng lên mức 5.100-5.200 đồng/kg với hàng cồn và giá 5.300-5.400 đồng/kg với hàng cám.

- Tại cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh), giá mua đối với hàng mì vỏ tại cửa khẩu dao động từ từ 4.750-5.000 đồng/kg, trong đó mức giá 4.750-4.850 đồng/kg áp dụng với hàng mì mới phơi và giá từ 4.900-5.000 đồng/kg với hàng kho. Mì cục, giá 5.400-5.500 đồng/kg.

- Tại Hoa Lư, mì Cam không còn hàng đưa về cửa khẩu nên không có giao dịch mua vào. Giá bán ra được chào phổ biến quanh mức 5.200-5.300 đồng/kg cho hàng cồn và 5.400-5.500 đồng/kg cho hàng cám.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, sang tháng 5, giá quay đầu giảm 100 đồng/kg so với tuần cuối tháng 4, còn phổ biến từ 2.600-2.700 đồng/kg.

- Tại khu vực Tây Nguyên, hầu hết các nhà máy đều đã nghỉ bảo dưỡng do hết vụ và mì cuối vụ chất lượng kém. Tính đến giữa tháng 5, những nhà máy còn chạy đang mua vào với giá 1.990-2.000 đồng/kg cho mì xô từ 22-23 độ.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 04/2019 đạt 500.000 tấn, tăng tới 180.000 tấn so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 130.000 tấn so với tháng 04/2018.

2. Xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 04/2019 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước, trong khi lượng xuất khẩu sắn lát lại tăng vọt tới 45% so với tháng 3.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Theo số liệu công bố của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/05/2019, tổng diện tích sắn gieo trồng trên cả nước đạt 218,3 nghìn ha, tăng 57,4% (tương đương 79,6 nghìn ha) so với tháng trước nhưng giảm nhẹ khoảng 3,9% so với cùng kỳ năm 2018. Qua số liệu thống kê cho thấy, diện tích sắn trồng mới tại miền Bắc giảm khá mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức giảm từ 11,5-28,8%, trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc giảm mạnh nhất với mức sụt giảm lên tới 28,8%. Trong khi đó, khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là 2 vùng có diện tích sắn trồng mới tăng mạnh so với năm trước, lần lượt là 24,2% và 52,8% do giá sắn củ tươi năm 2018 tăng cao.

Riêng tại khu vực Tây Nguyên, thời tiết bắt đầu vào mùa mưa rất thuận lợi cho việc gieo trồng sắn nên diện tích sắn trồng trong tháng 5 tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ tháng trước và chiếm tới trên 70% là của tỉnh Kon Tum, trong khi các tỉnh khác: Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông vẫn đang trong tình trạng khô hạn nên người dân chưa thể tiến hành xuống giống.

Năm nay, mùa mưa tại Tây Nguyên đến muộn hơn khoảng 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm nên phải sang đến đầu tháng 5, việc gieo trồng mì tại khu vực này mới được tiến hành nhanh hơn, trong khi một số vùng trồng sớm trong giai đoạn cuối tháng 3 thì có tới 80-90% phải trồng lại do bị chết hom.

Tính đến ngày 15/05/2019, Tây Ninh vẫn là địa phương có diện tích gieo trồng sắn lớn nhất cả nước với trên 33.400 ha, tăng 54,2% so với tháng trước và tăng tới 31,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tại Sơn La, theo tin từ thương nhân cho biết, diện tích trồng sắn vụ mới được ước tính tăng khoảng 15-20%, chủ yếu được chuyển đổi từ diện tích ngô do giá ngô không thuận lợi. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng kéo dài tại miền Bắc trong thời gian qua khiến cho 25-30% diện tích sắn trồng vụ mới bị chết hom và những diện tích còn lại cũng phát triển rất chậm do thiếu nước. Với những diện tích sắn đã chết, người dân phải chuyển qua trồng cây khác do không có hom thay thế và nếu trồng lại cũng bị trễ tới tới 2-3 tháng so với cùng kỳ hàng năm. Qua đó, sản lượng sắn tại Sơn La niên vụ 2019/2020 sẽ không đạt như kỳ vọng. Cũng theo tin từ thương nhân cho biết, ngoài sắn, hiện nay nhiều vùng trồng ngô tại Sơn La cũng đang phải đối mặt với sự bùng phát của bệnh sâu đục thân khiến năng suất ngô tại Sơn La cũng bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng.

Cũng theo tin từ thương nhân cho biết, thời tiết bên Campuchia nắng nóng kéo dài kể từ giữa tháng 3 tới nay với lượng mưa giảm mạnh so với cùng kỳ mọi năm nên diện tích trồng mì tại Cam vụ 2019/2020 có thể giảm mạnh so với vụ trước. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, mì vụ mới tại Campuchia chỉ bị chậm từ 1-1.5 tháng so với vụ trước còn diện tích vẫn giữ nguyên thậm chí tăng nhẹ.

* Ghi chú: Số liệu thống kê diện tích gieo trồng sắn tháng 04/2019 được bổ sung trong phần “phụ lục 1”

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến 15/05/2019 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/05/2019

84.3

134.0

218.3

15/04/2019

46.3

92.3

138.6

15/05/2018

105.1

121.9

227.1

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

82.1

45.1

57.4

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-19.8

9.9

-3.9

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến 15/05/2019 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 04/2019 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước do nguồn cung bên Cam sắp cạn

Theo số liệu thống kê hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 04/2019, chỉ đạt trên 12.000 tấn, giảm 41.000 tấn so với tháng trước và đạt tương đương so với cùng kỳ tháng 4 năm 2018. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Campuchia chỉ đạt gần 338.000 tấn, giảm 21,4% (tương đương khoảng 91.700 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sắn lát từ Lào đưa về Việt Nam tăng mạnh tới 36,2% so với cùng kỳ năm trước, ngoài cửa khẩu Cầu Treo, năm nay sắn Lào cũng được đưa về nhiều qua cửa khẩu La Lay và Lao Bảo của tỉnh Quảng Trị. Trái lại, năm nay, sắn lát nhập khẩu từ Campuchia giảm rất mạnh ở tất cả các cửa khẩu chính của khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó giảm mạnh nhất tại cửa khẩu Lệ Thanh (Gia Lai) với mức sụt giảm lên tới 93,1%, tiếp đến là cửa khẩu Hoa Lư (Bình Phước) giảm 45,2% và tại cửa khẩu Chàng Riệc (Tây Ninh) giảm tới 39,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Tương tự, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 04/2019 cũng giảm rất mạnh so với tháng trước khi chỉ đạt 35.000 tấn, tuy nhiên tăng 21.000 tấn so với tháng 04/2018. Tính chung từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019, tổng khối lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam đạt trên 468.500 tấn, tăng 13,2% (tương đương khoảng 54.500 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Theo số liệu thống kê hải quan cho thấy, tổng sản lượng xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong kỳ từ ngày 01-29/05/2019 chỉ đạt trên 16.500 tấn, giảm tới 60% so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước. Tính chung từ ngày 01/01-29/05/2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 180.000 tấn, giảm 320.000 tấn so với cùng kỳ năm 2018.

Mặc dù xuất khẩu sắn lát của Việt Nam giảm mạnh trong 5 tháng đầu năm nhưng do tồn kho không còn nhiều nên các kho cũng không vội bán ra, để hàng bán đi nhà máy cồn và nhà máy cám nội địa.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

156,163

37,709

-75.9

2

90,454

25,289

-72.0

3

158,534

56,832

-64.2

4

51,424

43,853

-14.7

5

47,586

16,561

-65.2

6

31,087

   

7

19,070

   

8

11,917

   

9

32,879

   

10

21,446

   

11

28,910

   

12

9,818

   

Tổng

659,288

180,243

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T5*/2019: số liệu sơ bộ)

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T5*/2019: số liệu sơ bộ)

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2019 (tấn)

Nước nhập

1

2

3

4

01-29/5

Tổng

China

36,625

12,594

42,466

29,997

11,368

133,051

Indonesia

   

1,026

1,381

 

2,407

Korea (Republic)

1,084

12,667

13,340

12,448

2,387

41,927

Malaysia

 

27

 

27

 

54

Singapore

       

2,805

2,805

Tổng

37,709

25,289

56,832

43,853

16,561

180,243

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

2.2 Xuất khẩu tinh bột sắn

Sang tháng 5/2019, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh ở cả kênh xuất khẩu đường biển lẫn biên mậu. Theo đó, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu trong 29 ngày đầu tháng 05/2019 chỉ đạt 112.000 tấn, giảm 82.000 tấn so với cùng kỳ  tháng trước và thấp hơn khoảng 47.000 tấn so với cùng kỳ tháng 5/2018.

Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt quanh mức 840.000 tấn, tăng 7% (tương đương tầm 55.000 tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Tháng

2018

2019

TT 2019/2018 (%)

1

222,883

210,385

-5.6

2

81,310

105,986

30.3

3

173,036

210,360

21.6

4

145,793

198,539

36.2

5

177,686

111,788

-37.1

6

138,816

   

7

93,397

   

8

78,095

   

9

117,305

   

10

160,492

   

11

188,655

   

12

169,773

   

Tổng

1,747,239

837,058

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T5*: số liệu sơ bộ)

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2018-2019 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan (T5*: số liệu sơ bộ)

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2019 (tấn)

Thị trường

1

2

3

4

01-29/5

Tổng

China

195,379

98,782

200,737

189,000

101,228

785,126

Malaysia

4,936

3,700

1,414

2,857

2,771

15,678

Philippines

5,079

1,158

3,155

2,264

2,074

13,730

Taiwan

2,709

2,028

2,176

2,770

3,073

12,756

Korea (Republic)

102

 

450

450

445

1,447

Senegal

171

56

435

323

190

1,175

Lithuania

73

 

969

   

1,042

Indonesia

608

   

228

 

836

HongKong

       

760

760

South Africa

304

76

18

228

 

626

Khác

1,024

186

1,006

419

1,247

3,883

Tổng

210,385

105,986

210,360

198,539

111,788

837,058

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Tại miền Bắc, mặc dù nhu cầu mua mì lát từ các nhà máy cám miền Bắc khá yếu nhưng do lượng tồn kho ít, cộng thêm nhu cầu hút hàng từ Trung Quốc nên giá mì cám khu vực Sơn La được đẩy lên mức phổ biến 4.700 đồng/kg (giá kho mua vào). Theo đó, giá sắn lát bán về các nhà máy TACN tại Hưng Yên, Hải Dương đang được cho quanh mức 4.900-5.000 đồng/kg. Hiện giá mì lát giao tại cửa khẩu khu vực Lạng Sơn được 5.050 đồng/kg với hàng cồn và 5.400 đồng/kg với hàng cám. Tin từ thương nhân cho biết, một số chủ hàng bên phía Lạng Sơn có nhu cầu mua hàng mì cám từ Gia Lai với giá mua tại nguồn khoảng 4.800-4.900 đồng/kg nhưng không có nhiều đơn vị bán ra. Một số nhà máy cồn đang cho giá mua về nhà máy 5.300 đồng/kg nhưng lượng mì đưa về cũng không nhiều.

Tại Quy Nhơn, sang tháng 5, do hàng trên nguồn Gia Lai không còn được đưa về nên giao dịch chủ yếu với hàng lưu kho bán ra. Giá hàng lưu kho được đẩy tăng lên mức 5.100-5.200 đồng/kg với hàng cồn và giá 5.300-5.400 đồng/kg với hàng cám đối với các hợp đồng ký mới. Nhu cầu tiêu thụ từ các nhà máy cồn và cám cá tốt nên một số đơn vị chuyển qua bán nội địa, một số khác tập trung xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc và không còn mặn mà với thị trường Trung Quốc do giá thấp và đồng nhân dân tệ mất giá mạnh.

Tại cửa khẩu Xa Mát, sang tháng 5, lượng mì lát từ Campuchia đưa về có xu hướng giảm mạnh do hết vụ. Theo đó, tính đến tuần cuối tháng 5, đầu tháng 6, lượng mì về chỉ đạt bình quân khoảng 200 tấn/ngày, hầu hết là hàng mì vỏ, gồm cả mì kho và mì mới phơi. Giá mua mì tại cửa khẩu dao động từ từ 4.750-5.000 đồng/kg, trong đó mức giá 4.750-4.850 đồng/kg áp dụng với hàng mì mới phơi và giá từ 4.900-5.000 đồng/kg với hàng kho. Đối với hàng mì cục, do phía Cam không trữ hàng này nên lượng đưa về Việt Nam trong tháng 5 rất ít, ngày có ngày không. Giá mua hàng mì cục tại cửa khẩu phổ biến từ 5.400-5.500 đồng/kg.

Tại Hoa Lư, mì Cam không còn hàng đưa về cửa khẩu nên không có giao dịch mua vào.

Tính đến cuối tháng 5, tại khu vực miền Nam, giá hàng lưu kho bán ra đang được các bên chào bán phổ biến ở mức 5.200-5.300 đồng/kg cho hàng cồn và 5.400-5.500 đồng/kg cho hàng cám, tùy theo chất lượng hàng. Tuy nhiên, hiện mức giá thị trường chấp nhận vào khoảng 5.200 đồng/kg cho hàng cồn (gồm cả mì vỏ và mì cục) và 5.400 đồng/kg cho hàng cám. Các kho hiện chủ yếu vẫn đang giao hàng theo các hợp đồng cũ và chưa vội ký mới do nhận định giá sẽ lên tiếp trong bối cảnh lượng tồn kho không còn nhiều.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu tại khu vực Quy Nhơn và Tây Ninh trong năm 2017-2019 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Sang tuần đầu tháng 5, giá sắn củ tươi tại Tây Ninh quay đầu giảm 100 đồng/kg so với tuần cuối tháng 4, còn phổ biến từ 2.600-2.700 đồng/kg và luôn duy trì mức giá này đến hết tháng 5. Sang đến tuần đầu tháng 6, một số nhà máy có xu hướng giảm giá mua vào, còn mức 2.400 đồng/kg do chất lượng mì về rất kém, tuy nhiên mức giá cao nhất vẫn được thiết lập ở mức 2.700 đồng/kg.

Tại khu vực Tây Nguyên, hầu hết các nhà máy đều đã nghỉ bảo dưỡng do hết vụ và mì cuối vụ chất lượng kém. Tính đến giữa tháng 5, những nhà máy còn chạy đang mua vào với giá 1.990-2.000 đồng/kg cho mì xô từ 22-23 độ.

Tại khu vực miền Bắc, sang tháng 5 tất cả nhà máy tinh bột sắn đều đã nghỉ chạy do hết vụ.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2018-2019 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 04/2019 đạt 500.000 tấn, tăng tới 180.000 tấn so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 130.000 tấn so với cùng kỳ tháng 4/2018

Theo số liệu thống kê chính thức từ hải quan Trung Quốc cho thấy, trong tháng 04/2019, nhập khẩu sắn lát của nước này lên tới 500.000 tấn, tăng 180.000 tấn so với tháng trước nhưng thấp hơn 130.000 tấn so với tháng 4/2018. Trong đó, lượng sắn lát nhập khẩu từ Thái Lan lên tới 436.000 tấn và chỉ có gần 44.000 tấn sắn lát nhập khẩu từ Việt Nam. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc đạt 1,49 triệu tấn, giảm 45,4% (tương đương giảm khoảng 1,24 triệu tấn) so với cùng kỳ năm 2018.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

8

270.0

 

 

9

210.0

 

 

10

320.0

 

 

11

270.0

 

 

12

270.0

 

 

2019

1

370.0

 

 

2

300.0

 

 

3

320.0

 

 

 

4

500.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 04/2019 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước, trong khi xuất khẩu sắn lát lại tăng vọt tới 45% so với tháng 3

Theo số liệu thống kê của hải quan Thái Lan cho thấy, trong tháng 04/2019, xuất khẩu sắn lát của nước này đạt 436 nghìn tấn, tăng 45% (tương đương 135 nghìn tấn) so với tháng trước nhưng thấp hơn khoảng 54 nghìn tấn so với tháng 4/2018. Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2019, tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan mới chỉ đạt 1,3 triệu tấn, giảm 40% (tương đương mức giảm khoảng 860 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm 2018, trong đó gần như 100% lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan được tiêu thụ tại thị trường Trung Quốc, chỉ một lượng nhỏ hơn 3.000 tấn được xuất sang Indonesia và Tây Ban Nha.

Trái lại, đối với tinh bột sắn, sản lượng xuất khẩu của Thái Lan trong tháng 04/2019 tiếp tục giảm mạnh, đạt trên 195,5 nghìn tấn, giảm 135 nghìn tấn so với tháng trước nhưng lại tăng khoảng 28,6 nghìn tấn so với tháng 04/2018. Tính chung từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 1,17 triệu tấn, tăng 183,5 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng tinh bột sắn xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 630,8 nghìn tấn, chiếm khoảng 54% tổng thị phần xuất khẩu tinh bột của Thái Lan trong 4 tháng đầu năm. Thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn thứ 2 của Thái Lan là Indonesia với tổng khối lượng nhập khẩu đạt 177.000 tấn tính đến hết tháng 4, trong khi con số của cùng kỳ năm 2018 chỉ là 96.000 tấn, tức tăng gấp 1,8 lần.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2019 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

8

205.4

276.8

9

273.2

246.2

10

279.0

311.3

11

270.2

281.9

12

209.1

231.9

2019

1

265.0

293.2

2

297.4

351.5

3

300.6

339.5

4

436.0

195.5

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Sang tháng 5, giá xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan có diễn biến trái chiều.

Trong đó, giá xuất khẩu sắn lát có xu hướng tăng trở lại kể từ tuần cuối tháng 5, đầu tháng 6 do giá ngô tăng cao và giá chào xuất khẩu của Việt Nam tăng trong bối cảnh nhu cầu mua từ Trung Quốc nhiều hơn. Theo đó, giá chào được đẩy tăng thêm 5 USD/tấn, lên mức 220-225 USD/tấn FOB.

Đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan nối dài xu hướng giảm kể từ cuối tháng 4 do nhu cầu tiêu thụ từ thị trường Trung Quốc chậm hơn do đang trong mùa nắng nóng cao điểm tại nước này. Tính đến tuần cuối tháng 5, chào giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan giảm còn 445 USD/tấn FOB, tức giảm 15 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước và giảm tới 110 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2018.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2017-2019 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Đối với sắn lát, trong 5 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam mới đạt khoảng 180.000 tấn, giảm tới 64% so với cùng kỳ năm trước. Cộng thêm lượng tồn kho trên cả nước tính đến cuối tháng 5 vào khoảng trên dưới 200.000 tấn (dùng cho cả sản xuất nội địa và xuất khẩu) thì tổng khối lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam cho cả năm 2019 sẽ chỉ đạt tầm 300.000 tấn, tức giảm trên 50% so với năm 2018. Ngoài ra, do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn kéo dài nên năm nay vụ gieo trồng sắn tại các vùng của Việt Nam và Campuchia đều bắt đầu muộn hơn ít nhất 1 tháng so với cùng kỳ hàng năm, do đó sắn lát vụ mới 2019/2020 cũng được nhận định sẽ có muộn hơn.

Đối với tinh bột sắn, thị trường vẫn thiếu những trợ lực về mặt nhu cầu để có thể hồi phục mạnh mẽ, mặc dù lượng tồn kho trong nước được nhận định đang ở mức rất thấp. Nguyên nhân là do nhu cầu từ Trung Quốc lẫn các thị trường ngoài Trung Quốc đang khá chậm do chưa phải mùa sản xuất và tiêu thụ cao điểm. Theo đó, tình hình trầm lắng của thị trường có thế sẽ kéo dài đến hết quý II, thậm chí sang nửa đầu quý III.

----------------

PHỤ LỤC 1: Bổ sung số liệu về tiến độ gieo trồng sắn vụ mới tại các vùng trên cả nước tính đến ngày 15/04/2019.

Bảng 1.1 Diện tích trồng sắn cả nước tính đến ngày 15/04/2019 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/04/2019

46.3

92.3

138.6

15/03/2019

36.2

87.0

123.1

15/04/2018

52.0

80.1

132.1

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

28.0

6.2

12.6

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-11.0

15.3

5.0

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Bảng 2.1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến ngày 15/04/2019 (ha)

Khu vực

04/2018

03/2019

04/2019

Tăng/giảm so với năm trước

Tăng/giảm so với tháng trước

ĐB sông Hồng

2,115

50

1,716

-18.9

3,332.0

Trung du và MN phía Bắc

40,237

19,422

25,758

-36.0

32.6

Bắc Trung Bộ

9,670

16,692

18,828

94.7

12.8

D.H Nam Trung Bộ

40,346

39,957

54,210

34.4

35.7

Tây Nguyên

8,369

7,300

7,519

-10.2

3.0

Đông Nam Bộ

30,249

37,282

28,402

-6.1

-23.8

ĐBS Cửu Long

1,102

2,409

2,211

100.6

-8.2

Nguồn: Bộ NN và PTNT        

Bảng 3.1: Diện tích gieo trồng sắn tại một số tỉnh trọng điểm tính đến ngày 15/04/2019 (ha)

Tỉnh

04/2018

03/2019

04/2019

Tăng/giảm so với năm trước

Tăng/giảm so với tháng trước

Tây Ninh

23,628

31,396

21,669

-8.3

-31.0

Phú Yên

15,000

14,000

17,000

13.3

21.4

Quảng Trị

8,989

11,780

10,532

17.2

-10.6

Yên Bái

11,000

10,000

10,000

-9.1

0.0

Điện Biên

3,708

7,722

2,165

-41.6

-72.0

Quảng Nam

8,000

7,700

8,700

8.7

13.0

Gia Lai

6,550

6,000

6,000

-8.4

 0.0

Nghệ An

0

4,912

0

 

-100.0

Ninh Thuận

3,000

4,479

3,000

0.0

-33.0

Khánh Hoà

3,253

4,000

4,253

30.7

6.3

Đồng Nai

3,318

3,500

3,400

2.5

-2.9

Hoà Bình

8,492

1,700

7,624

-10.2

348.5

Đắk Lắk

1,819

1,563

1,519

-16.5

-2.8

Bình Dương

1,703

1,466

1,713

0.6

16.8

Bình Phước

1,600

1,022

1,620

1.3

58.5

Sơn La

10,462

0

0

 

 

Đắk Nông

0

0

-

 

 

Thanh Hoá

0

0

0

 

 

Thừa Thiên Huế

681

0

2,796

310.6

 

Quảng Bình

0

0

5,500

 

 

Phú Thọ

5,885

0

5,969

1.4

 

Tuyên Quang

0

0

0

 

 

Vĩnh Phúc

1,401

0

1,296

-7.5

 

Kon Tum

-

0

-

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Bộ NN và PTNT

Tin miễn phí