vay tín chấp Hotline: 0936.288.112
 

Thị trường sắn và tinh bột sắn (18/5-26/5/2017) - Giá mì về kho Quy Nhơn được điều chỉnh tăng

GIÁ CẢ

Giá sắn lát nội địa và xuất khẩu

Giá xuất khẩu của Thái Lan tiếp tục được đẩy tăng, lên trên 155 USD/tấn FOB. Tuy nhiên, tin từ thương nhân cho biết nhu cầu mua của Trung Quốc vẫn rất chậm với mức giá trả cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ dưới 169 USD/tấn CNF về cảng miền Nam Trung Quốc. Hiện các nhà máy cồn phía Bắc Trung Quốc vẫn chưa chạy nhiều do chưa xong các tiêu chuẩn môi trường.

Tại Quy Nhơn, tuần này lượng mì đưa về vẫn ở mức thấp chưa đến 2.000 tấn/ngày. Do nhu cầu mua hàng của một số kho tăng khá mạnh nên giá mua tại kho cũng được điều chỉnh tăng 30-50 đồng/kg so với tuần trước, phổ biến ở mức 3.280-3.300 đồng/kg. Một số kho do đã đầy hàng, nhu cầu mua hạn chế chỉ chấp nhận mua vào ở mức 3.220 đồng/kg, tuy nhiên với mức giá này có rất hàng được đưa về. Hàng đưa về kho Quy Nhơn hiện nay chất lượng khá tốt, chủ yếu là hàng mì khô lưu kho trộn lẫn với hàng mì xô thường. Mùa mưa tại Gia Lai sắp bắt đầu nên các chủ hàng chấp nhận bán ra với giá thấp để giải phóng hàng do điều kiện kho bãi không đảm bảo, cộng với chi phí lưu kho cũng tương đối lớn. Theo ước tính của thương nhân, lượng sắn lát còn tồn kho tại Gia Lai, Kon Tum còn khoảng 40-50 nghìn tấn, tập trung ở một số đơn vị lớn. Còn tại Quy Nhơn, lượng sắn lát còn tồn kho vào khoảng trên 300.000 tấn, trong đó có 2-3 đơn vị tồn khoảng 60-70.000 tấn/mỗi đơn vị.

Tại cửa khẩu Chàng Riệc, tuần này lượng mì lát đưa về tăng nhẹ so với tuần trước, đạt bình quân khoảng 90-100 xe/ngày. Tuy nhiên, đến cuối tuần này lượng mì Cam đưa về có xu hướng giảm mạnh, do giá bên Thái Lan liên tục được điều chỉnh tăng trong 2 tuần gần đây khiến mì Cam có xu hướng đưa sang Thái nhiều hơn. Giá mua mì tại cửa khẩu Chàng Riệc tuần này khá ổn định, duy trì ở mức 610-640 Riel/kg tùy loại. Hàng mì vỏ được mua ở mức 500-560 Riel/kg và hàng mì xô thường dao động ở mức từ 400-450 Riel/kg. Hàng mì Cam đưa về Chàng Riệc hiện nay gồm cả mì lưu kho và mì mới nên chất lượng hàng không đồng đều. Đặc biệt, mì mới phơi do thời tiết có mưa khiến trữ độ bột của mì giảm, chất lượng mì lát thành phẩm kém hơn, độ ẩm cao. Thậm chí, với những lô hàng bị dính mưa, các kho chỉ chấp nhận mua vào với mức giá 350-380 Riel/kg.

Tại cửa khẩu Hoa Lư (Bình Phước), mì về cửa khẩu chỉ còn dưới 100 tấn/ngày do các kho ngừng mua vào và chất lượng mì đưa về chủ yếu là mì dính mưa. Đối với mì cám TACN, các kho tại Hoa Lư vẫn đang bán ra ở mức 3.900-4.000 đồng/kg tuỳ phẩm cấp. Nhu cầu mua mì cám của các nhà máy cám cá miền Tây vẫn có nhưng có vẻ chậm lại so với trước do mì cắt kho từ Campuchia cũng như mì cắt kho từ khu vực Tây Nguyên bắt đầu được đưa về.

Tại Sơn La, mì lát từ các sân phơi không còn được đưa về các kho do đã hết vụ thu hoạch. Hiện một số kho tại Sơn La đang bán ra sắn trữ trước đó với giá 3.800 đồng/kg cho hàng bao và 3.700 đồng/kg cho hàng xá. Tuy nhiên, nhu cầu mua từ các nhà máy cám TACN vẫn khá chậm do tình hình sản xuất không như kỳ vọng.

Giá sắn lát thu mua nội địa tại Việt Nam (VND/kg)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

Sơn La – mì xô

3.700

3.700

Tây Ninh – mì xô thường

2.500-3.150

2.500-3.150

Quy Nhơn – mì xô thường

3.200-3.300

3.200-3.250

Bình Phước – mì xô thường

2.500-3.200

2.500-3.200

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn lát xuất khẩu Việt Nam (giá FOB, USD/tấn)

Tác nhân thu mua

Tuần này

Tuần trước

FOB – Quy Nhơn/Sài Gòn (mì vụ mới)

155-156

155-156

Nguồn: Mạng lưới AgroMonitor

Giá sắn nguyên liệu và tinh bột sắn

Tại cửa khẩu Chàng Riệc (Tây Ninh) tuần này lượng mì đưa về vẫn rất ít, đạt bình quân khoảng 100 xe/ngày, mì đất ruộng đưa về cửa khẩu có xu hướng tăng chiếm tới 60%. Chất lượng của mì đất thấp được nhận định là tốt hơn, độ bột cao hơn so với mì đât cao. Tuy nhiên do giá mì về nhà máy không tăng nên giá mua tại cửa khẩu vãn khá ổn định, từ 230240 Riel/kg với hàng xô và 280-290 Riel/kg với mì 29-30 độ. Do lượng mì củ từ Cam đưa về trong thời gian gần đây rất ít, chỉ bằng ¼ so với những tháng cao điểm nên chỉ đáp ứng được một lượng rất nhỏ cho các nhà máy tinh bột quanh khu vực Chàng Riệc. Trong khi đó, mì nội vùng tại Tây Ninh hiện vẫn còn non, độ bột thấp và tỉ lệ thối củ nhiều khiến lượng đưa về các nhà máy giảm mạnh trong tuần này. Hiện nay tại khu vực Tân Châu, hầu hết các nhà máy tinh bột đều phải tạm ngưng hoạt động do thiếu nguyên liệu, chỉ còn 1-2 đơn vị chạy lai rai. Dự kiến phải sang đến cuối tháng 6, đầu tháng 7 khi mì nội được thu hoạch rộ vụ, các nhà máy mới hoạt động trở lại. Giá mì củ về các nhà máy tuần này được điều chỉnh giảm, chỉ còn từ 1.700-1.800 đồng/kg, giảm mạnh từ 30-130 đồng/kg so với tuần trước do trữ độ bột của mì vẫn khá thấp.

Tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, giá mì về các nhà máy tuần này vẫn được giữu ổn định so với mức giá đã được thiết lập từ tuần trước. Theo đó, mức 1.500-1.600 đồng/kg tại Đắc Lắc, 1.550-1.600 đồng/kg tại Kon Tum và 1.580-1.620 đồng/kg tại Phú Yên. Do mì cuối vụ chất lượng thấp và nguồn cung còn không đủ cho các nhà máy chạy nên hầu hết các nhà mãy khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ đã đóng máy nghỉ bảo dưỡng, chỉ còn 10-15% số nhà máy vẫn còn hoạt động, chủ yếu tại những vùng thu hoạch mì muộn.

Giá mì tươi tại Tây Ninh và Phú Yên (đồng/kg)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp

Giá sắn củ tươi tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016 (VND/kg, mì 30 độ bột)

Vùng

Tuần này

Tuần trước

Tây Ninh – mì nội địa

1.700-1.800

1.830

Tây Ninh – mì Cam

1.700-1.800

1.830

Đắc Lắc

1.500-1.600

1.500-1.600

Kon Tum

1.550-1.600

1.550-1.600

Phú Yên

1.580-1.620

1.580-1.620

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn

Tại Móng Cái, từ đầu tuần này tình hình lên hàng khá chậm do phía Đông Hưng việc giải phóng hàng không nhanh như dự kiến. Theo ước tính của thương nhân, mỗi ngày chỉ có trên dưới 1.000 tấn tinh bột được dỡ, cho tất cả các chủ hàng. Giá tinh bột sắn tại Móng Cái chỉ còn cao nhất 2.200 tệ/tấn cho loại 1 và nhiều mức giá khác nhau cho loại 2. Với những sà lan nằm tồn tại Móng Cái lâu ngày, giá thậm chí còn dưới 2.000 tệ/tấn do hàng đã bị xuống màu, phẩm cấp giảm. Mặc dù vụ tinh bột sắn của Việt Nam đã gần kết thúc, nguồn cung tinh bột ra thị trường giảm nhưng giá xuất khẩu không những không tăng mà còn có chiều hướng giảm do nhu cầu mua của Trung Quốc hiện khá chậm trong bối cảnh các nhà máy của Trung Quốc bị xiết chặt sản xuất liên quan đến các vấn đề môi trường.

Tại Lạng Sơn, phía Trung Quốc vẫn nhận hàng chậm, với lượng giao từ 500-700 tấn/ngày. Nhu cầu lấy bột thực phẩm cũng kém đi nhiều do đã vào mùa nóng và những kiểm soát chặt chẽ về mặt môi trường.

Giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam vẫn được chào ở mức 310-320 USD/tấn FOB cho hàng giao tháng 6. Tuy nhiên, phía các nhà nhập khẩu vẫn chưa chấp nhận mức giá này. Mức giá phổ biến vẫn chỉ dưới 310 USD/tấn FOB.

Chào giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam

Hình thức

Tuần này

Tuần trước

Theo đường biển (FOB Hồ Chí Minh- USD/tấn)

310-320

310-320

Theo đường biên mậu (DAF Móng Cái/Lạng Sơn - tệ/tấn)

1.970-2.280

2.130-2.280

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá sắn lát và tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan

Tuần này Hiệp hội thương mại sắn Thái Lan tiếp tục điều chỉnh tăng giá chào xuất khẩu sắn lát thêm 3 USD/tấn, lên mức 155-158 USD/tấn FOB, đồng thời tăng giá sắn lát nội địa thêm 0,1 Bath/kg.

Đối với tinh bột sắn, tuần này Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan vẫn giữ giá chào xuất khẩu ở mức 345 USD/tấn và giá bán nội địa là 11,2 Bath/kg.

Bảng giá nội địa và xuất khẩu của Thái Lan

 

Đơn vị

Tuần này

Tuần trước

Tháng trước

Cùng kỳ năm trước

Sắn củ tươi

Bath/kg

1.55-1.70

1.55-1.70

1.60-1.75

2.10-2.20

Sắn lát nội địa

Bath/kg

4.30-4.80

4.30-4.70

4.50-4.80

5.90-6.30

Tinh bột sắn nội địa

Bath/kg

10.30-10.50

10.30-10.50

10.50-10.70

12.50-13.00

Tinh bột sắn xuất FOB

USD/tấn

325-330

325-330

325-330

380-395

Sắn lát xuất FOB

USD/tấn

155-158

152-158

155-160

185-195

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Tin miễn phí