Hotline: 0936.288.112
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 11/2017 - Nhập khẩu sắn củ tươi và sắn lát của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong tháng 11/2017 do phía Cam đang bước vào thời điểm thu hoạch sắn rộ vụ

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 11/2017

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

 

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/11/2017 tổng diện tích gieo trồng sắn của cả nước đạt 502,3 nghìn ha, tăng 5,3% so với tháng trước nhưng lại giảm nhẹ 0,2% so với cùng kỳ năm 2016.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 11/2017 tăng mạnh trở lại khi đạt tới 12.500 tấn, tăng gấp 10,4 lần so với tháng trước và tăng tới 271,1% so với cùng kỳ năm 2016..

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 11/2017 tiếp tục tăng mạnh, đạt gần 200.000 tấn, tăng 26,1% so với tháng trước và tăng tới 49,6% so với cùng kỳ năm 2016.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 11/2017, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam chỉ đạt 356,4 nghìn tấn tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 104,3 triệu USD, tăng 22% về lượng và tăng 23,6% về giá trị so với tháng trước. Trong đó:

- Xuất khẩu sắn lát đạt gần 120 nghìn tấn, tăng 10.6% so với tháng trước và tăng tới 141,4% so với tháng 11/2016.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 11/2017 đạt 211,5 nghìn tấn, tăng 15,8% so với tháng trước nhưng lại giảm khoảng 11,7 % so với cùng kỳ năm 2016.

Giá cả

1. Sắn lát

- Tồn kho sắn lát vụ cũ của Việt Nam gần như không còn, trong khi nhu cầu mua của Trung Quốc tốt hơn do giá cồn tại nước này tiếp tục tăng mạnh đã kéo giá sắn lát vụ cũ tại khu vực Đông Nam Bộ tăng lên mức 4.500 đồng/kg vào tuần cuối tháng 11 đầu tháng 12, tăng 300 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước.

- Giá mì lát tại Sơn La và Tuyên Quang tăng lên mức 4.300-4.400 đồng/kg cho mì có độ ẩm dưới 15% đi nhà máy thức ăn chăn nuôi nội địa. Tuy nhiên do đòi hỏi khắt khe về độ ẩm nên các sân phơi ít làm mì này mà chủ yếu làm mì lát xuất đi Trung Quốc với độ ẩm trên 17%, giá giao dịch tại nguồn khoảng 3.900 đồng/kg.

2. Sắn củ tươi: Giá xuất khẩu tinh bột sắn tăng mạnh, cộng với nguồn cung sắn củ tươi khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ đẩy giá sắn nguyên liệu tại các khu vực trên cả nước tiếp tục tăng trong tháng 11.

- Tại Tây Ninh, giá mua vào mì nguyên liệu của các nhà máy tinh bột dao động từ 2.200-2.450 đồng/kg;

- Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, giá mì củ cũng tăng mạnh từ 300-350 đồng/kg so với tháng trước lên mức 2.100-2.400 đồng/kg tùy nhà máy và khoảng cách xa gần.

- Tại miền Bắc, do nhu cầu mua sắn củ tươi từ phía Trung Quốc mạnh khiến giá mì nguyên liệu tại khu vực này tăng rất nhanh lên mức 1.750-2.300 đồng/kg, tăng 350-800 đồng/kg so với cuối tháng 10.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 11/2017 tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước;

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 11/2017, đồng loạt giảm so với tháng trước lẫn cùng kỳ tháng 11/2016.

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Tháng 11 vẫn là thời điểm thu hoạch sắn rộ vụ ở hầu hết các vùng trên cả nước. Do vậy, diện tích sắn trồng mới được thống kê đến ngày 15/11/21027 có sự gia tăng không đáng kể so với cùng kỳ tháng trước và tập trung chủ yếu ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Trong khi đó, hoạt động trồng trọt ở các tỉnh phía Bắc chủ yếu tập trung hoàn thành việc thu hoạc lúa mùa và gieo trồng các cây màu vụ đông nên diện tích gieo trồng sắn vụ mới hầu như không có biến động so với tháng trước.

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến giữa tháng 11/2017, diện tích gieo trồng sắn cả nước đạt 502,3 nghìn ha, tăng 5,3% so với tháng trước nhưng lại giảm nhẹ 0,2% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, các tỉnh như Đồng Nai, Bình Định, Tây Ninh và Phú Yên là những địa phương có số liệu báo cáo cho thấy sự gia tăng khá mạnh về diện tích sắn trồng mới trong tháng 11. Lớn nhất là tỉnh Đồng Nai với 15.000 ha, tăng là 43,8% so với tháng trước và tăng 29,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo thông tin cập nhật đến thời điểm đầu tháng 12/2017, bệnh xoăn lá đã xuất hiện trở lại trên rất nhiều diện tích sắn trồng mới tại Tây Ninh, thậm chí có ruộng phải nhổ bỏ hoàn toàn để trồng lại do tỷ lệ sắn bị nhiễm bệnh khá lớn. Ngoài ra, tình hình thời tiết bất lợi ngay từ đầu vụ cũng khiến cho việc gieo trồng sắn vụ mới của người dân gặp nhiều khó khăn, nhiều hộ phải cày lên trồng lại nhiều lần do sắn bị dính mưa gây hiện tượng thối rễ/không ra mầm, qua đó làm tăng chi phí và thời gian gieo trồng sắn vụ mới. Theo nhận định, nếu tình hình dịch bệnh và thời tiết tiếp tục có những diễn biến phức tạp thì nguồn cung sắn nguyên liệu tại Tây Ninh trong giai đoạn tháng 5 tháng 6 năm sau sẽ khá căng thẳng.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến ngày 15/11/2017 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/11/2017

138.0

364.3

502.3

15/10/2017

138.0

339.1

477.1

15/11/2016

147.3

356.1

503.4

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

0.0

7.4

5.3

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-6.3

2.3

-0.2

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến ngày 15/11/2017 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi và sắn lát của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong tháng 11/2017 do bên phía Campuchia đang bước vào thời điểm thu hoạch sắn rộ vụ

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 11 tiếp tục tăng, đạt gần 200 nghìn tấn, tăng 26,1% so với tháng trước và tăng tới 49,6% so với cùng kỳ tháng 11 năm 2016. Tính chung 11 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã nhập khẩu trên 1,53 triệu tấn sắn củ tươi từ Lào và Campuchia với giá trị đạt khoảng 127,4 triệu USD, tăng 60,3% về lượng và tăng 56,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Có cùng xu hướng, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 11/2017 tăng mạnh trở lại khi đạt tới 12.500 tấn, nhiều gấp 10,4 lần so với tháng trước và tăng tới 271,1% so với cùng kỳ năm 2016. Tính từ tháng 01/01-30/11/2017,  nhập khẩu sắn lát của Việt Nam đạt con số 1,15 triệu tấn, tăng 79,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng sắn lát nhập khẩu từ Campuchia chiếm tới 90,5% (tương đương khoảng 1,04 triệu tấn) và chỉ có trên 109 nghìn tấn sắn được nhập khẩu từ Lào.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 11/2017 tăng nhẹ so với tháng trước và tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ năm 2016

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan cho thấy, trong tháng 11/2017 Việt Nam đã xuất khẩu được gần 120 nghìn tấn sắn lát, tăng 10,6% so với tháng 10 và tăng tới 141,4% so với tháng 11/2016. Tính từ 01/01-30/11/2017, Việt Nam đã xuất khẩu trên 1,36 triệu tấn sắn lát, tăng nhẹ 1% (tương đương khoảng 14.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2016-2017 (tấn)

Tháng

2016

2017

TT 2017/2016 (%)

1

145,244

43,846

-69.8

2

157,670

162,755

3.2

3

299,594

246,722

-17.6

4

260,694

84,051

-67.8

5

121,338

108,714

-10.4

6

53,205

114,141

114.5

7

55,789

133,659

139.6

8

125,353

133,917

6.8

9

28,110

109,356

289.0

10

55,419

108,800

96.3

11

49,847

120,348

141.4

12

52,939

   

Tổng

1,405,202

1,366,308

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Nhu cầu mua sắn lát từ các nhà nhập khẩu Trung Quốc khá tốt, nhưng do lượng tồn kho của Việt Nam không còn nhiều khiến lượng hàng xuất khẩu trong tháng 11 vẫn duy trì ở mức thấp, đạt trên 114 nghìn tấn, tăng nhẹ so với tháng 10 nhưng cao gấp 2,7 lần so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung 11 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc đã nhập khẩu trên 1,3 triệu tấn sắn lát từ Việt Nam, chiếm 95,3% thị phần. Trong khi đó, lượng sắn lát Trung Quốc nhập từ Thái Lan trong 11 tháng đầu năm nay là gần 5,74 triệu tấn.

Nhu cầu mua sắn lát từ thị trường Hàn Quốc tăng mạnh trở lại, đạt trên 6,3 nghìn tấn sau 2 tháng 9 và tháng 10 lượng mua gần như bằng 0. Đối với thị trường Indonesia, tháng 11 là tháng thứ 6 liên tiếp hầu như không có một đơn hàng xuất khẩu sắn lát nào từ Việt Nam sang thị trường này.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2017 (tấn)

Nước nhập

6

7

8

9

10

11

Tổng

China

113,923

112,970

127,288

109,052

108,583

114,043

1,301,857

Korea (Republic)

107

20,688

6,519

108

217

6,304

60,294

Indonesia

           

3,295

Malaysia

111

 

111

196

   

642

Sri Lanka

           

219

Tổng

114,141

133,659

133,917

109,356

108,800

120,348

1,366,307

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 11/2017 đạt trên 211,5 nghìn tấn, tăng 15,8 so với tháng trước nhưng giảm khoảng 11,7% so với tháng 11/2016

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 11/2017 đạt 211,5 nghìn tấn, tăng 15,8% so với tháng 10 nhưng lại giảm 11,7% so với cùng kỳ tháng 11 năm 2016. Tính chung 11 tháng đầu năm 2017, tổng lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 2.04 triệu tấn, tăng 6,7% (tương đương mức tăng khoảng 127,5 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2016-2017 (tấn)

Tháng

2016

2017

TT 2017/2016 (%)

1

223,141

123,014

-44.9

2

132,078

248,330

88.0

3

231,833

283,493

22.3

4

189,891

177,730

-6.4

5

136,949

142,321

3.9

6

122,726

174,329

42.0

7

137,558

145,658

5.9

8

160,556

150,812

-6.1

9

147,075

200,310

36.2

10

191,342

182,561

-4.6

11

239,379

211,463

-11.7

12

255,157

   

Tổng

2,167,685

2,040,021

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn nhất của Việt Nam tính đến tháng 11/2017 với lượng nhập khẩu đạt 203,5 nghìn tấn, chiếm 96,2%. Tính chung 11 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc đã nhập khẩu hơn 1,8 triệu tấn tinh bột sắn từ Việt Nam, chiếm 88,9% tổng thị phần. Nhu cầu từ các thị trường ngoài Trung Quốc như Philippines, Malaysia, Indonesia và Đài Loan tiếp tục giảm so với tháng trước.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2017 (tấn)

Thị trường

7

8

9

10

11

Tổng

China

123,938

137,740

189,032

171,300

203,482

1,812,687

Philippines

3,447

1,500

2,792

1,891

1,088

46,591

Malaysia

2,168

3,386

1,350

2,731

1,903

44,546

Indonesia

8,135

836

247

361

 

39,456

Taiwan

2,021

649

2,474

2,428

2,165

34,151

India

85

1,387

171

   

12,567

Singapore

0

170

564

537

340

8,173

Papua New Guinea

2,052

3,040

494

1,026

 

7,106

UAE

736

408

736

380

380

5,066

Japan

1,020

228

 

136

289

3,764

Bangladesh

 

38

190

418

38

3,154

Chile

 

85

 

304

722

3,125

HongKong

 

18

38

 

20

2,795

USA

698

155

 

67

140

2,675

Pakistan

345

350

865

 

265

2,358

South Africa

407

332

199

114

92

2,071

Khác

606

491

1,159

869

540

9,734

Tổng

145,658

150,812

200,310

182,561

211,463

2,040,020

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1.Sắn lát

Sang tháng 11/2017, giá sắn lát giao dịch nội địa tiếp tục xu hướng tăng do tồn kho sắp cạn trong khi nhu cầu mua phía Trung Quốc vẫn khá tốt

Tồn kho sắn lát vụ cũ của Việt Nam gần như không còn, trong khi nhu cầu mua của Trung Quốc tốt hơn do giá cồn tại nước này tiếp tục tăng mạnh đã kéo giá sắn lát vụ cũ tại khu vực Đông Nam Bộ tăng lên mức 4.500 đồng/kg vào tuần cuối tháng 11 đầu tháng 12, tăng 300 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước.

Tại khu vực miền Bắc, mặc dù nhu cầu mua sắn của các nhà máy TACN miền Bắc khá chậm do giá ngô vẫn ở mức cạnh tranh nhưng do nhu cầu hút hàng của các nhà máy bên Trung Quốc nên sắn lát làm đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Theo đó, giá mì lát tại Sơn La và Tuyên Quang tăng lên mức 4.300-4.400 đồng/kg cho mì có độ ẩm dưới 15% đi nhà máy thức ăn chăn nuôi nội địa. Tuy nhiên do đòi hỏi khắt khe về độ ẩm nên các sân phơi ít làm mì này mà chủ yếu làm mì lát xuất đi Trung Quốc với độ ẩm trên 17%, giá giao dịch tại nguồn khoảng 3.900 đồng/kg.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2015 -2017 (đồng/kg)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2 Sắn củ tươi

 Giá mì củ tại các vùng quay đầu giảm nhẹ vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 do xuất khẩu tinh bột sắn khó khăn

Giá xuất khẩu tinh bột sắn tăng mạnh, cộng với nguồn cung sắn củ tươi khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ đẩy giá sắn nguyên liệu tại các khu vực trên cả nước tiếp tục tăng trong tháng 11.

Tại Tây Ninh, nguồn cung mì nội vùng gần như đã cạn do đã vào cuối vụ, trong khi đó nhu cầu mua nguyên liệu của các nhà máy hiện đang rất lớn khiến giá mì củ liên tục được điều chỉnh tăng trong tháng 11 và lên mức cao nhất là 2.450 đồng/kg, cá biệt có nhà máy chấp nhận mua vào với giá 2.550 đồng/kg (hàng chọn, trữ độ bột cao từ 27, 28 điểm trở lên). Sang đến tuần cuối tháng 11 đầu tháng 12, giá được điều chỉnh giảm trở lại còn phổ biến từ 2.200-2.350 đồng/kg do thiếu vắng các đơn hàng xuất khẩu mới, trong khi lượng mì về cửa khẩu vần rất nhiều. Tuy nhiên, giá mì Cam giao dịch tại cửa khẩu vẫn duy trì ở mức cao do các nhà máy hiện đang bị phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn cung mì từ Cam đưa về. Theo đó giá mì củ từ Cam mua tại cửa khẩu Chàng Riệc tăng lên mức phổ biến từ 360-390 Riel/kg, cá biệt mức giá 420 Riel/kg cũng đã được thiết lập.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, giá mì nguyên liệu tiếp tục có xu hướng tăng do nguồn cung mì khan hiếm so với nhu cầu tiêu thụ. Tính đến cuối tháng 11, giá mì tại Đắc Lắc và Kon Tum tăng lên mức phổ biến từ 2.150-2.230 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg so với tháng trước. Tại Gia Lai, giá dao động từ 2.150-2.400 đồng/kg tùy nhà máy, áp dụng với mì 30 độ bột và tại Phú Yên giá mua vào của các nhà máy hiện đang ở mức thấp nhất trong khu vực, dao động từ 2.100-2.200 đồng/kg, tăng 300-350 đồng/kg so với tuần cuối tháng 10.

Tại khu vực miền Bắc, mặc dù nguồn cung sắn củ tươi tại Sơn La, Điện Biên và Tuyên Quang trong tháng 11 có nhiều hơn do đã vào thời thu hoạch rộ vụ nhưng do giá xuất khẩu tinh bột khá tốt, cộng với nhu cầu mua sắn củ tươi từ phía Trung Quốc mạnh khiến giá mì nguyên liệu tại miền Bắc tăng rất nhanh lên mức 1.750-2.300 đồng/kg, tăng từ 350-800 đồng/kg so với thời điểm cuối tháng 10.

Tuy nhiên, sang đến đầu tháng 12 giá mì củ lại có xu hướng quay đầu giảm mạnh ở hầu hết các khu vực khi xuất khẩu tinh bột sắn rơi vào trạng thái trầm lắng khi các nhà nhập khẩu Trung Quốc giảm nhịp độ mua do giá tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam tăng quá nhanh. Trong khi đó, nguồn cung sắn vụ mới tại Trung Quốc bắt đầu có đưa ra thị trường và những đơn hàng ký trước đó đã về tới cảng khiến lượng hàng dự trữ của các nhà máy vẫn khá nhiều nên các nhà nhập khẩu Trung Quốc chưa vội mua vào.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2017 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 11/2017 tăng mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

 

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, trong tháng 11/2017, nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc đạt 685,2 nghìn tấn, tăng 27,7% so với tháng 10 (tương đương mức tăng khoảng 148,7 nghìn tấn) và tăng tới 32% so với cùng kỳ năm 2016.Trong đó, lượng sắn lát nhập khẩu từ thị trường Thái Lan là trên 583,8 nghìn tấn, chiếm 85,2% và chỉ có hơn 99,8 nghìn tấn sắn lát được nhập từ Việt Nam. Tính chung 11 tháng năm 2017, tổng sản lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu đạt trên 7,1 triệu tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2016 (tương đương khoảng 330,3  nghìn tấn). Do ảnh hưởng của chính sách kiểm soát môi trường khiến nhiều nhà máy cồn và hóa chất tại Trung Quốc phải giảm công suất và tạm ngưng hoạt động kể từ tháng 01/2017 đến hết tháng 7/2017, tuy nhiên sang đến tháng 8 khi các nhà máy chạy lại, nhu cầu mua sắn lát từ Trung Quốc hồi phục mạnh mẽ, cộng với giá cồn từ sắn liên tục tăng mạnh khiến sản lượng sắn nhập khẩu trong nửa cuối năm 2017 luôn duy trì ở mức cao.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2015-2017 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2015

1

726.7

 

 

2

936.3

720.0

200.0

3

1,168.3

868.3

300.0

4

1,157.8

810.0

330.0

5

1,092.8

790.0

290.0

6

834.8

540.0

250.0

7

918.3

740.0

170.0

8

625.6

618.0

6.7

9

311.2

278.0

28.6

10

437.1

 

 

11

425.5

400.0

20.0

12

624.7

587.0

26.0

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 11/2017 đồng loạt giảm so với tháng trước lẫn cùng kỳ tháng 11/2016

 

Theo số liệu thống kê mới nhất của hải quan Thái Lan, xuất khẩu sắn của nước này quay đầu giảm nhẹ trong tháng 11. Trong đó, sản lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan chỉ đạt 546,3 nghìn tấn, giảm 8,3% so với tháng trước và giảm tới 31% (tương đương mức giảm khoảng 245,3 nghìn tấn) so với tháng 11/2016. Mặc dù nhu cầu mua sắn lát từ các nhà máy sản xuất cồn của Trung Quốc khá lớn nhưng do tồn kho trong nước ở mức thấp khiến sản lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan khó tăng như kỳ vọng. Tính chung 11 tháng năm 2017, Thái Lan đã xuất khẩu lượng sắn lát đạt gần 5,75 triệu tấn, tăng 11,7 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước và có trên 5,74 triệu tấn sắn lát được xuất sang thị trường Trung Quốc, chiếm 99,9% thị phần.

Có cùng xu hướng, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 11 cũng quay đầu giảm nhẹ khi chỉ đạt con số 257,7 nghìn tấn, giảm 3,6% so với tháng 10 và thấp hơn khoảng 15,1% so với cùng kỳ năm 2016. Tính đến hết tháng 11/2017, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan đạt trên 2,74 triệu tấn, giảm 5,9% (tương đương khoảng 173,3 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ tinh bột sắn lớn nhất của Thái Lan với trên 50,5% thị phần, tiếp đến là Indonesia, Đài Loan và Malaysia chiếm tỷ trọng lần lượt là 12,3%, 10,2% và 6,8%.

Bảng 7: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2015-2017 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2015

1

564.2

259.4

2

809.0

276.5

3

721.7

333.8

4

665.1

234.8

5

1071.4

281.0

6

692.0

227.1

7

641.3

160.5

8

299.1

185.9

9

253.2

188.7

10

559.8

216.4

11

367.4

259.1

12

615.7

263.8

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

 

 

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

tăng và đạt mức cao nhất 208 USD/tấn vào tuần đầu tháng 12, tăng khoảng 13 USD/tấn so với tháng trước do lượng tồn kho sắn lát của nước này cũng đang ở mức thấp và nguồn cung sắn vụ mới được nhận định sẽ giảm rất mạnh so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, giá cồn từ sắn bán ra tại thị trường Trung Quốc đã thoát đáy và liên tục leo dốc kể từ giữa tháng 7/2017 và đạt mức cao nhất là 5650 tệ/tấn (vào ngày 30/11/2017) tại khu vực Sơn Đông và Giang Tô hỗ trợ tích cực cho giá sắn lát xuất khẩu sang thị trường này.

Có cùng xu hướng, giá tinh bột sắn xuất khẩu của Thái Lan cũng không ngừng tăng kể từ đầu tháng 9/2017 trở lại đây. Tính đến cuối tháng 11, giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan tăng lên mức 430-435 USD/tấn FOB, tăng tới 50 USD/tấn so với tháng trước do lượng tồn kho mỏng, trong khi nguồn cung tinh bột sắn vụ mới sẽ đạt thấp do sản lượng và diện tích sắn niên vụ 2017/2018 giảm khá mạnh do ảnh hưởng của việc thay đổi cơ cấu cây trồng và tình hình lũ lụt xảy ra nghiêm trọng tại các tỉnh Đông Bắc Thái Lan trong năm vừa qua. Theo đánh giá sơ bộ, mức độ suy giảm sản lượng sắn của Thái Lan năm nay có thể lên tới 10%, thậm chí là nhiều hơn.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2017 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Giá cồn từ sắn tại Trung Quốc tăng mạnh cùng với việc Thái Lan tăng giá sàn xuất khẩu sắn lát cho nửa đầu tháng 12/2017 trong khi lượng sắn lát tồn kho của Việt Nam gần như bằng 0 sẽ giúp cho những đơn vị còn sắn lát có được mức giá cao khi giao dịch. Tuy nhiên, do Trung Quốc cũng bắt đầu vào vụ sắn mới, cộng thêm nguồn cung sắn lát từ Lào, Campuchia và Thái Lan cũng có nhiều hơn nên các nhà nhập khẩu Trung Quốc vẫn trong trạng thái nghe ngóng thị trường. Về phía Việt Nam, do sản lượng sắn lát nội địa được đánh giá giảm mạnh tới 60% tại thị trường miền Bắc và 40-50% tại thị trường miền Nam do sản lượng sắn củ giảm và sắn củ được hút đi các nhà máy tinh bột sắn nên các đơn vị xuất khẩu cũng thận trọng cho chào giá vụ mới. Thị trường sắn lát xuất khẩu lẫn nội địa sẽ tương đối trầm lắng, ít nhất trong nửa tháng tới cho tới khi nguồn cung sắn lát vụ mới có nhiều hơn.

Đối với tinh bột sắn, mặc dù giá tinh bột nội địa lẫn xuất khẩu được điều chỉnh giảm khá mạnh vào tuần cuối tháng 11 và đầu tháng 12 nhưng người mua phía Trung Quốc lẫn các đầu lậu tại Việt Nam vẫn trong trạng thái chờ đợi giá giảm thêm do Trung Quốc cũng đã bắt đầu vào vụ tinh bột sắn và tinh bột ngô, cộng thêm lượng hàng ký trước đó về cảng nhiều, đủ cho các nhà máy sản xuất, không còn hiện tượng hụt hàng như trước. Giới thương nhân nhận định, giá tinh bột nội địa cần được kéo giảm về dưới 9.000 đồng/kg, tức khoảng trên dưới 410 USD/tấn FOB thì giao dịch mới được đẩy lên nhanh hơn. Tuy nhiên, do giá nguyên liệu vẫn duy trì ở mức cao, cộng thêm vụ sắn lát mới chuẩn bị bắt đầu với sự tham gia mạnh mẽ hơn của các nhà máy cồn thì giá tinh bột thành phẩm có thể khó giảm như kỳ vọng.

Tin miễn phí