Hotline: 0936.288.112
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 5/2017 - Giá mì nguyên liệu về nhà máy tinh bột tại Tây Ninh có xu hướng giảm nhẹ trong nửa cuối tháng 5

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 05/2017

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/05/2017 tổng diện tích gieo trồng sắn của cả nước đạt trên 211 nghìn ha, tăng 28,2% so với cùng kỳ tháng 4 nhưng lại giảm tới 17,5% so với tháng 5 năm 2016.

Xuất-nhập khẩu

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát và sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 05/2017 có xu hướng trái ngược. Trong khi lượng sắn củ tươi nhập khẩu từ Campuchia về Việt Nam đạt trên 115 nghìn tấn, tăng 30% so với tháng trước và cao gấp 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2016. Đối với sắn lát, lượng nhập khẩu của Việt Nam trong tháng 5/2017 tiếp tục xu hướng giảm khi chỉ đạt trên 68 nghìn tấn, giảm tới 43,6% so với tháng trước nhưng vẫn cao gấp 3,2 lần so với cùng kỳ năm trước.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 5/2017, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam chỉ đạt 261,6 nghìn tấn, giảm nhẹ khoảng 7,5 nghìn tấn so với tháng trước và đạt tương đương so với cùng kỳ tháng 5 năm 2016.

- Xuất khẩu sắn lát đạt gần 109 nghìn tấn, tăng 29,3% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn khoảng 12 nghìn tấn với lượng xuất  khẩu của cùng kỳ tháng 5/2016.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh trong tháng 5/2017 khi chỉ đạt trên 142 nghìn tấn, thấp hơn khoảng 35 nghìn tấn so với tháng 4 và tăng nhẹ 3,9% so với cùng kỳ năm trước.

Giá cả

1. Sắn lát

Chất lượng hàng đưa về kém, cộng với đầu ra khó khăn khiến tồn kho đang ở mức cao, nhu cầu mua hàng của các đơn vị chững lại, giá tiếp tục được duy trì ở mức thấp.

- Tại Quy Nhơn, giá mua vào của các kho dao động quanh mức 3.200-3.300 đồng/kg với hàng mì xô thường. Hàng mì đẹp, giá giảm 50 đồng/kg so với tháng trước, còn mức 3.400 đồng/kg

- Tại Tây Ninh, sang tháng 5/2017 giá mua vẫn ổn định với mức giá đã được thiết lập từ tháng trước từ 2.500-3.150 đồng/kg tùy chất lượng hàng với mì xô thường và từ 3.900-4.000 đồng/kg với mì đẹp bán về nhà máy TACN.

- Tại Hoa Lư (Bình Phước) do chất lượng mì lát từ Cam đưa sang cũng tương tự như về Chàng Riệc và Xa Mát nên giá mua cũng khá tương đương, dao động từ 2.500-3.200 đồng/kg. Đối với mì cám TACN, các kho tại Hoa Lư vẫn đang bán ra ở mức 3.900-4.000 đồng/kg tuỳ phẩm cấp.

Tại Sơn La, giá bán ra sắn trữ trước đó ở mức 3.800 đồng/kg cho hàng bao và 3.700 đồng/kkg cho hàng xá, không đổi so với tháng trước.

2. Sắn củ tươi: Giá mì nguyên liệu giảm nhẹ trong nửa cuối tháng 5 do chất lượng mì củ đưa về giảm, độ bột thấp hơn do mưa lớn kéo dài.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 5/2017 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước;

2. Xuất khẩu sắn của Thái Lan trong tháng 5/2017 có xu hướng trái chiều. Trong khi sản lượng sắn lát xuất khẩu tiếp tục đà giảm trong 4 tháng liên tiếp thì xuất khẩu tinh bột sắn lại quay đầu giảm mạnh trở lại.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Theo số liệu thống kê của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/05/2017 tổng diện tích gieo trồng sắn của cả nước đạt trên 211 nghìn ha, tăng 28,2% so với cùng kỳ tháng 4 nhưng lại giảm tới 17,5% so với tháng 5 năm 2016. Trong số những khu vực trồng sắn lớn, Tây Nguyên là vùng có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất từ 7,5 nghìn ha trong tháng 4 lên mức 34 nghìn ha tính đến thời điểm giữa tháng 5, tăng tới 355,5% so với cùng kỳ tháng trước. Nguyên nhân là do thu hoạch sắn vụ cũ tại khu vực này gần như đã kết thúc, người dân đang bắt đầu trồng mì vụ mới. Tiếp đến là khu vực đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ với mức gia tăng lần lượt là 74,1% và 43,2% so với tháng trước.

Tính đến giữa tháng 5/2017, địa phương có diện tích gieo trồng sắn lớn nhất cả nước vẫn là tỉnh Tây Ninh với trên 34 nghìn ha, tăng hơn 1 nghìn ha so với tháng trước nhưng lại giảm khoảng 7,1% so với cùng kỳ năm trước.

Theo tin từ các thương nhân: từ cuối năm 2016 giá cao su có xu hướng giảm mạnh nên hiện nay nhiều diện tích trồng cao su được chuyển qua trồng sắn. Vì vậy, có thể sang đến thời điểm tháng 2, tháng 3 năm 2018 sản lượng sắn tại Tây Ninh sẽ tăng mạnh trở lại. Ngoài ra, do sức khang chịu sâu bệnh của sắn giống cũ kém nên kể từ năm 2017, tất cả các diện tích sắn trồng mới tại Tây Ninh đều được thay thế bằng giống mới, được nhận định là có khả năng chống chịu bệnh tốt hơn, độ bột củ mì cao hơn và thời gian sinh trưởng ngắn hơn chỉ 7-8 tháng thay vì 11 tháng như trước đây. Điều này sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại và ổn định nguồn cung nguyên liệu cho khu vực này. Tuy nhiên, năng suất sắn giống mới đạt cao nhất chỉ khoảng 30 tấn/ha (trong khi đó năng suất của sắn giống cũ là 50-60 tấn/ha).

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến ngày 15/04/2017 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/05/2017

76.5

134.7

211.2

15/04/2017

75.4

89.3

164.7

15/05/2016

119.4

136.5

255.9

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

1.5

50.8

28.2

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-35.9

-1.3

-17.5

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến ngày 15/04/2017 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Xuất-nhập khẩu

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn lát và sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 05/2017 có xu hướng tăng-giảm trái chiều nhưng vẫn cao hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê hải quan cho thấy, trong tháng 5/2017 nhập khẩu sắn lát và sắn củ tươi của nước ta có xu hướng trái ngược.

Trong đó, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam trong tháng 5 đạt trên 115 nghìn tấn, tăng 30% (tương đương khoảng 26.700 tấn) so với tháng trước và cao gấp 3,5 lần so với lượng nhập khẩu của cùng kỳ năm 2016. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng sắn củ tươi nhập khẩu của nước ta đạt 865 nghìn tấn, tăng 246 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2016. Nguyên nhân là do nguồn cung sắn nguyên liệu trong nước năm nay giảm mạnh do dịch bệnh và mưa lớn kéo dài khiến nhu cầu đối với mì Cam tăng lên. Ngoài ra, thời tiết tại Cam bắt đầu vào mùa mưa không thể làm mì lát do vậy mì củ cũng được đưa sang nhiều hơn.

Trong 2 năm trở lại đây, Campuchia phát triển khá mạnh cả về diện tích và kỹ thuật canh tác khiến sản lượng sắn củ tươi của nước này tăng rất mạnh. Năm 2016 Campuchia đã chính thức thay thế vị trí của Việt Nam trong top 3 nước dẫn đầu thế giới với sản lượng sắn năm 2016 ước đạt trên 13,2 triệu tấn. Vì vậy, theo nhận định trong niên vụ 2017/2018 Campuchia sẽ trở thành vùng cung cấp nguyên liệu chủ chốt thay thế cho sự sụt giảm mạnh mẽ cả về diện tích lẫn năng suất sắn của Việt Nam. Đặc biệt là tại khu vực Tây Ninh và Tây Nguyên do ảnh hưởng của thời tiết cũng như thay đổi cơ cấu cây trồng.

Trái lại, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam tháng 5/2017 tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt trên 68 nghìn tấn, giảm tới 43,6% (tương đương giảm khoảng 52,6 nghìn tấn) so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn gấp 3,2 lần so với lượng nhập khẩu của cùng kỳ tháng 5/2016. Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2017, tổng lượng sắn lát được nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu qua các cửa khẩu thuộc tỉnh Bình Phước và Tây Ninh đạt gần 1,08 triệu tấn, vượt 463,6 nghìn tấn so với lượng nhập khẩu của cùng kỳ năm 2016.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2015-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 05/2017 tăng nhẹ trở lại nhưng vẫn giảm khoảng 12 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan, sang tháng 5/2017, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam tăng nhẹ trở lại, đạt gần 109 nghìn tấn, tăng 29,3% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 10,4% (tương đương giảm gần 13 nghìn tấn so với cùng kỳ tháng 5 năm 2016. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt hơn 646 nghìn tấn, giảm tới 34,4% (tương đương giảm khoảng 338,5 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2016-2017 (tấn)

Tháng

2016

2017

TT 2017/2016 (%)

1

145,244

43,846

-69.8

2

157,670

162,755

3.2

3

299,594

246,722

-17.6

4

260,694

84,051

-67.8

5

121,338

108,714

-10.4

6

53,205

   

7

55,789

   

8

125,353

   

9

28,110

   

10

55,419

   

11

49,847

   

12

52,939

   

Tổng

1,405,202

646,088

 

 

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu tinh bột sắn tháng 05/2017 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước nhưng vẫn tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước

Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tiếp tục giảm trong tháng 5/2017 khi chỉ đạt trên 142 nghìn tấn, giảm 35,4 nghìn tấn so với tháng trước nhưng vẫn cao hơn khoảng 5 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung 5 tháng đầu năm, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của nước ta đi các thị trường đã tăng khoảng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, đạt gần 975 nghìn tấn.

Bảng 3: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2016-2017 (tấn)

Tháng

2016

2017

TT 2017/2016 (%)

1

223,141

123,014

-44.9

2

132,078

248,330

88.0

3

231,833

283,493

22.3

4

189,891

177,730

-6.4

5

136,949

142,321

3.9

6

122,726

   

7

137,558

   

8

160,556

   

9

147,075

   

10

191,342

   

11

239,379

   

12

255,157

   

Tổng

2,167,685

974,888

 

 

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2016-2017 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Giá cả

Giá sắn lát nội địa trong tháng 5 khá ổn định ở hầu hết các khu vực do nhu cầu mua của các kho không còn nhiều, cộng với tình hình xuất khẩu khá trầm lắng

Tại Quy Nhơn, lượng mì đưa về đạt thấp chỉ dao động quanh mức 1.000 tấn/ngày do nhu cầu mua vào của các kho không còn nhiều, trong bối cảnh thị trường đang rất ảm đạm với cả tiêu thụ nội địa lẫn xuất khẩu. Giá mua vào đối với hàng xô thường của các kho trong tháng 5 khá ổn định, dao động quanh mức 3.200-3.300 đồng/kg. Hàng mì đẹp, giá mua vào giảm 50 đồng/kg xuống còn 3.400 đồng/kg, tuy nhiên rất ít kho có nhu cầu đối với hàng loại này. Sang tháng 6, giá mua vào có xu hướng được đẩy tăng lên do lượng hàng đưa về giảm, trong khi một số đơn vị có nhu cầu mua hàng bổ sung cho những đơn hàng sắp xuất cảng.

Tại cửa khẩu Chàng Riệc và Xa Mát của tỉnh Tây Ninh, lượng mì Cam đưa về có xu hướng giảm mạnh do đã vào cuối vụ, lượng mì tồn bên Cam không còn nhiều. Ngoài ra, do giá sắn lát nội địa của Thái Lan tăng cao trong 2 tuần cuối tháng 5 cũng khiến mì lát từ Cam có xu hướng đưa sang Thái Lan nhiều hơn thay vì đưa về Việt Nam. Giá mua tại cửa khẩu vẫn ổn định ở mức giá đã được thiết lập từ tháng 4, dao động trong khoảng từ 2.500-3.150 đồng/kg. Trong đó, mức giá 2.500-2.800 đồng/kg áp dụng với mì dính mưa, độ ẩm cao và xỉn màu. Giá mì đưa về các nhà máy TACN vẫn ổn định ở mức 3.900-4.000 đồng/kg. Tuy nhiên, sang đến đầu tháng 6 do lượng mì cắt kho từ Tây Nguyên và Campuchia được đưa về nhà máy cám nhiều hơn nên giá mì cám có xu hướng giảm.

Tương tự, tại cửa khẩu Hoa Lư (Bình Phước) kể từ giữa tháng 5 lượng mì lát từ Cam đưa về giảm mạnh, chỉ còn dưới 100 tấn/ngày do các kho ngừng mua vào và mì đưa về chủ yêu là mì dính mưa, chất lượng kém. Giá mua vào của các kho vẫn ổn định ở mức 2.500-3.200 đồng/kg, không đổi so với mứa giá đã được thiết lập từ tháng trước. Đối với mì cám TACN, các kho tại Hoa Lư vẫn đang bán ra ở mức 3.900-4.000 đồng/kg tuỳ phẩm cấp. Nhu cầu mua mì cám của các nhà máy cám cá miền Tây vẫn có nhưng có vẻ chậm lại so với trước do mì cắt kho từ Campuchia cũng như mì cắt kho từ khu vực Tây Nguyên bắt đầu được đưa về.

Tại Sơn La, kể từ cuối tháng 4, mì lát từ các sân phơi không còn được đưa về các kho do đã hết vụ thu hoạch. Hiện một số kho tại Sơn La đang bán ra sắn trữ trước đó với giá 3.800 đồng/kg cho hàng bao và 3.700 đồng/kg cho hàng xá. Tuy nhiên, nhu cầu mua từ các nhà máy cám TACN vẫn khá chậm do tình hình sản xuất không như kỳ vọng.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2015 -2017 (đồng/kg)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

 Giá mì nguyên liệu về nhà máy tại Tây Ninh có xu hướng giảm trong nửa cuối tháng 5 do ảnh hưởng của mưa lớn khiến trữ độ bột của mì giảm

Mặc dù đã vào cuối vụ, nguồn cung sắn nguyên liệu giảm khá mạnh ở hầu hết các khu vực nhưng do chất lượng củ mì kém hơn, nhu cầu của các nhà máy cũng khá ổn định trong bối cảnh đầu ra vẫn gặp khó khăn nên giá mì đưa về nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh có xu hướng giảm trong nửa cuối tháng 5.

Tại Tây Ninh, giá mì nguyên liệu có xu hướng tăng nhẹ trong nửa đầu tháng 5 lên mức 1.830 đồng/kg do nguồn cung về nhà máy giảm mạnh. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời tiết có mưa kéo dài khiến trữ độ bột của mì giảm mạnh, cộng với đầu ra tinh bột khó khăn nên các nhà máy điều chỉnh giảm khá mạnh giá mua vào, từ mức 1.830 đồng/kg xuống còn từ 1.700-1.800 đồng/kg và duy trì trong suốt nửa cuối tháng 5, đầu tháng 6.

Tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, trong 2 tuần đầu tháng 5 giá mì về nhà máy có xu hướng điều chỉnh giảm từ 30-100 đồng/kg tùy vùng và tùy nhà máy do thời tiết không thuận lợi cho việc làm mì lát nên lượng mì củ đưa về nhà máy tinh bột tăng, cộng với tình hình tiêu thụ tinh bột vẫn rất khó khăn. Tại Đắc Lắc, giá giảm còn 1.500-1.600 đồng/kg, mức 1.550-1.600 đồng/kg tại Kon Tum và tại Phú Yên giá có sự điều chỉnh mạnh nhất từ mức 1.630-1.720 đồng/kg xuống còn 1.580-1.620 đồng/kg, giảm tới 100 đồng/kg so tuần cuối tháng 4. Và mức giá này được duy trì đến hết tháng 5 và sang nửa đầu tháng 6.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2017 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 5/2017 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, trong tháng 5/2017 nhập khẩu sắn lát của nước này tiếp tục giảm mạnh, chỉ đạt 594,9 nghìn tấn, giảm tới 28,3% (tương đương giảm khoảng 235,1 nghìn tấn) so với tháng 4 và so với cùng kỳ tháng 5/2016 mức giảm là 15,8% xấp xỉ 111 nghìn tấn. Trong đó, có trên 513 nghìn tấn sắn lát được nhập khẩu từ Thái Lan chiếm tới 86,3% thị phần và chỉ có gần 80 nghìn tấn sắn lát được nhập khẩu từ thị trường Việt Nam. Tính đến hết tháng 5, tổng sản lượng sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2017 mới chỉ đạt mức 3,58 triệu tấn, giảm tới 172,2 nghìn tấn so với cùng kỳ năm 2016.

Bảng 4: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2015-2017 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2015

1

726.7

 

 

2

936.3

720.0

200.0

3

1,168.3

868.3

300.0

4

1,157.8

810.0

330.0

5

1,092.8

790.0

290.0

6

834.8

540.0

250.0

7

918.3

740.0

170.0

8

625.6

618.0

6.7

9

311.2

278.0

28.6

10

437.1

 

 

11

425.5

400.0

20.0

12

624.7

587.0

26.0

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Xuất khẩu sắn của Thái Lan trong tháng 5/2017 có xu hướng trái chiều. Trong khi sản lượng xuất khẩu sắn lát tiếp tục đà giảm trong 4 tháng liên tiếp thì xuất khẩu tinh bột sắn lại quay đầu tăng mạnh trở lại

Theo số liệu thống kê của hải quan Thái Lan cho thấy, sản lượng sắn lát xuất khẩu của nước này tiếp tục đà giảm tháng thứ 4 liên tiếp kể từ tháng 2 khi chỉ đạt con số 456,9 nghìn tấn, giảm 14,2% so với tháng trước và giảm 33,4% (tương đương giảm khoảng 229,5 nghìn tấn) so với cùng kỳ tháng 5/2016. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng sắn lát xuất khẩu của Thái Lan mới chỉ 2,86 triệu tấn, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, (tương đương giảm khoảng 205 nghìn tấn).

Trong khi đó, xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 5/2017 lại quay đầu tăng mạnh trở lại, đạt mức 270,4 nghìn tấn, tăng gần 70 nghìn tấn so với tháng trước và tăng 23,7% (tương đương khoảng 51,8 nghìn tấn) so với tháng 6/2016. Tuy nhiên, tính chung 5 tháng đầu năm nay, tổng sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu của nước này vẫn giảm khá mạnh khi chỉ đạt gần 1,25 triệu tấn, thấp hơn khoảng 221,2 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 5: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2015-2017 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2015

1

564.2

259.4

2

809.0

276.5

3

721.7

333.8

4

665.1

234.8

5

1071.4

281.0

6

692.0

227.1

7

641.3

160.5

8

299.1

185.9

9

253.2

188.7

10

559.8

216.4

11

367.4

259.1

12

615.7

263.8

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Xuất khẩu sắn lát ảm đạm, cộng với tồn kho lớn khiến chào giá sắn lát của Thái Ln liên tục được điều chỉnh giảm trong 2 tuần đầu tháng 5, xuống còn 152 USD/tấn, giảm 3 USD/tấn so với tuần cuối tháng 4 và giảm tới 35 USD/tấn so với cùng kỳ thàn 5 năm 2016. Sang đến nửa đàu tháng 6, giá có xu hướng tăng trở lại khi nhu cầu mua của thị trường Trung Quốc đang phục hồi trở lại.

Trong khi đó giá xuất khẩu tinh bột sắn của nước này vẫn được giữ ổn định quanh mức 320-330 USD/tấn đã được thiết lập từ cuối tháng 3. Trong khi đó, giá chào xuất khẩu của Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan có sự điều chỉnh giảm khá mạnh tới 5 USD/tấn xuống còn 340 USD/tấn FOB trong tuần cuối tháng 5, đầu tháng 6 sau khi giữ mức giá sau gần 3 tháng duy trì ở mức 345 USD/tấn.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2015-2017 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Tin miễn phí