Hotline: 0936.288.112
 

Toàn cảnh thị trường sắn tháng 7/2018 - Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 7 đạt mức thấp nhất kể từ tháng 9/2015

CÁC DIỄN BIẾN QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG THÁNG 07/2018

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

Nội địa

Sản xuất

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Bộ NN và PTNT, tính đến ngày 15/7/2018, diện tích gieo trồng sắn cả nước ước đạt 410 nghìn ha, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Thương mại

1. Nhập khẩu

- Nhập khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 07/2018 tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt trên 800 tấn, giảm 74,8% so với tháng 6 và thấp hơn rất nhiều so với con số 10.500 tấn của cùng kỳ tháng 7 năm 2017.

- Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tháng 07/2018 tiếp tục tăng nhẹ, đạt 35.800 tấn, tăng 1.200 tấn so với tháng trước nhưng giảm tới 45% so với cùng kỳ năm 2017.

2. Xuất khẩu

- Theo số liệu thống kê hải quan, trong tháng 07/2018, xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn của Việt Nam đạt 112,3 nghìn tấn, tương đương giá trị xuất khẩu đạt trên 51 triệu USD, giảm 33,8% về lượng và giảm 34,5% về giá trị so với tháng trước. So với tháng 7/2017, mức giảm lên tới 58,3% do nhu cầu nhập khẩu sắn từ thị trường Trung Quốc giảm mạnh.

- Xuất khẩu sắn lát trong tháng 7/2018 đạt trên 19 nghìn tấn, giảm hơn 12.000 tấn so với tháng 6 và giảm tới 85,7% so với tháng 7/2017.

- Xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam tháng 07/2018 cũng tiếp tục giảm mạnh khi sản lượng tinh bột sắn xuất khẩu đạt trên 93 nghìn tấn, giảm hơn 45.000 tấn so với tháng trước và thấp hơn tới 35,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Giá cả

1. Sắn lát

- Tại Sơn La hầu như không còn do các đơn vị còn hàng hầu hết đã bán đi các nhà máy tinh bột sắn để nghiền ra trộn cùng củ tươi làm tinh bột sắn với giá khoảng 4.950 đồng/kg tại kho.

- Tại Tây Ninh và Bình Phước, các kho đã ngừng mua hàng do hết vụ, mì Cam không còn đưa về.

- Tại Quy Nhơn, giá mua vào của các kho ổn định  từ 4.700-4.800 đồng/kg (hàng xô thường) và 5.700-5.800 đồng/kg với mì cám.

2. Sắn củ tươi:

- Tại Tây Ninh, giá mì củ đưa về nhà máy duy trì  quanh mức 3.100-3.300 đồng/kg do nhu cầu mua nguyên liệu của các nhà máy tăng cao.

- Tại khu vực Tây Nguyên, các nhà máy tinh bột sắn dự kiến sẽ hoạt động muộn hơn khoảng 1 tháng, tức sang nửa cuối tháng 9 mới chạy lại do không còn mì trồng 2 năm như những năm trước.

Quốc tế

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tháng 07/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do tỉ lệ vận hành của các nhà máy cồn đạt thấp và đồng nhân dân tệ mất giá mạnh;

2. Nhập khẩu cồn của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục trong quý I/2018;

3. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 7/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua từ Trung Quốc yếu.

 

DIỄN BIẾN THỊ TRƯỜNG

NỘI ĐỊA

Sản xuất

Diện tích sắn cả nước theo số liệu công bố của Bộ NN và PTNT tính đến ngày 15/7/2018 đạt 410 nghìn ha, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, khu vực đồng bằng sông Cửu Long là vùng có sự suy giảm mạnh nhất, chỉ đạt trên 2.300 ha, giảm tới 30,7% so với cùng kỳ năm 2017. Tiếp đến là khu vực Trung du miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng với mức giảm lần lượt 16,1% và 14,7% so với cùng kỳ tháng 7 năm 2017.

Các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên có diện tích sắn trồng mới tăng mạnh nhất cả nước với mức tăng 22,9% so với tháng 6 và đạt tổng diện tích toàn vùng lên tới con số 143.000 ha. Trong đó, tỉnh Gia Lai tăng 28%, lên 64.000 ha, vượt tỉnh Tây Ninh và trở thành địa phương có diện tích gieo trồng sắn lớn nhất cả nước tính đến ngày 15/7/2018.

Tây Ninh đứng ở vị trí thứ 2 với 47.900 ha tính đến giữa tháng 7 năm 2018. Tuy nhiên theo các thương nhân cho biết, năm nay bệnh khảm lá bùng phát ở hầu hết các vùng trồng mì của tỉnh Tây Ninh, thậm chí những giống mì mới được coi là có khả năng kháng vi rút gây khảm lá cũng bị nhiễm bệnh. Do đó, nguồn cung mì nguyên liệu tại Tây Ninh năm nay được nhận định sẽ vẫn khó khăn, mặc dù diện tích trồng mới ước tính đã tăng khoảng 10-15% so với năm trước. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Tây Ninh, hiện nay bệnh khảm lá đã lan rộng và gây hại cho khoảng hơn 90% diện tích trồng sắn của tỉnh Tây Ninh (32.000 ha) và đang lan sang các tỉnh lân cận khác như: Đồng Nai, Bình Phước, Đắc Lắc, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Virus gây bệnh khảm lá lan truyền theo 2 con đường là qua hom giống và qua môi giới truyền bệnh (bọ phấn trắng). Bệnh khảm lá trên cây khoai mì được đánh giá là bệnh khá nguy hiểm do mức độ lây lan nhanh và sự suy giảm nghiêm trọng về năng suất của cây mì. Đối với cây mới bị lây bệnh, năng suất giảm khoảng 30% và với cây mì trồng bằng hom giống đã bị bệnh năng suất giảm tới 60%, thậm chí là không cho thu hoạch nếu cây mì có biểu hiện bệnh ngay khi mới mọc mầm.

Ngoài ra, mưa lớn và lũ lụt diễn ra nghiêm trọng tại các nước thuộc vùng sông Mekong như: Thái Lan, Lào và Campuchia kể từ giữa tháng 7/2018 có thể sẽ khiến cho sản lượng sắn củ tươi của những nước này bị ảnh hưởng đáng kể.

Bảng 1: Diện tích trồng sắn cả nước tính đến tháng 15/07/2018 (nghìn ha)

 

Miền Bắc

Miền Nam

Tổng

15/07/2018

107.7

302.3

410.0

15/06/2018

107.3

270.3

377.6

15/07/2017

118.1

309.5

427.6

Tăng/giảm so với cùng kỳ tháng trước (%)

0.4

11.8

8.6

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

-8.8

-2.3

-4.1

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Hình 1: Diện tích trồng sắn phân theo vùng kinh tế đến tháng 15/07/2018 (ha)

Nguồn: Bộ NN và PTNT

Thương mại

1. Nhập khẩu

Nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tiếp tục tăng trong tháng 07/2018 do thu hoạch mì bên Cam rộ hơn

Theo số liệu thống kê của hải quan cho thấy, nhập khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm mạnh khi chỉ đạt con số 800 tấn, giảm tới 74,8%% so với tháng trước và thấp hơn rất nhiều so với con số 10.500 tấn của cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Việt Nam chỉ đạt 437,6 nghìn tấn, giảm 690 nghìn tấn so với cùng kỳ năm trước.

Có xu hướng trái ngược, nhập khẩu sắn củ tươi của Việt Nam tiếp tục xu hướng tăng nhẹ khi đạt trên 35.800 tấn, tăng 1.200 tấn so với tháng 6 nhưng lại giảm tới 45% so với cùng kỳ tháng 7 năm 2017. Tính từ 01/01-31/07/2018, sản lượng sắn củ tươi nhập khẩu của Việt Nam mới đạt trên 500 nghìn tấn, giảm tới 50% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2: Lượng sắn lát và sắn củ tươi Việt Nam nhập khẩu trong năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục hải quan

2. Xuất khẩu

2.1 Xuất khẩu sắn lát

Xuất khẩu sắn lát của Việt Nam trong tháng 07/2018 chỉ đạt trên 19.000 tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 09/2015 trở lại đây

Theo số liệu AgroMonitor tổng hợp từ hải quan cho thấy, trong tháng 7/2018, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam tiếp tục giảm khi chỉ đạt con số trên 19 nghìn tấn, giảm hơn 12.000 tấn so với tháng 6 và giảm tới 85,7% so với tháng 7/2017. Tính chung trong 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam mới đạt trên 553 nghìn tấn, giảm 38% (tương đương giảm khoảng 340 nghìn tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 2: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

43,846

156,163

256.2

2

162,755

90,454

-44.4

3

246,722

158,534

-35.7

4

84,051

51,424

-38.8

5

108,714

47,196

-56.6

6

114,141

31,087

-72.8

7

133,659

19,070

-85.7

8

133,917

   

9

109,356

   

10

108,800

   

11

120,348

   

12

146,905

   

Tổng

1,513,213

553,928

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Hình 3: Lượng sắn lát xuất khẩu của Việt Nam theo tháng năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Trong tổng số 19.000 tấn sắn lát xuất khẩu trong tháng 7 thì có tới trên 14.000 tấn xuất đi thị trường Hàn Quốc, đưa tổng khối lượng sắn lát xuất sang thị trường này trong 7 tháng đầu năm 2018 đạt gần 51.000 tấn, tăng 9,7% (tức khoảng 4.500 tấn) so với cùng kỳ năm trước). Trong khi đó, lượng sắn lát Trung Quốc nhập khẩu của Việt Nam trong tháng 7 tiếp tục suy giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước với mức giảm lần lượt là 84,1% và 95,9% khi lượng nhập khẩu trong tháng 7 chỉ đạt trên 4.000 tấn, thấp nhất kể từ tháng 11/2013 trở lại đây.

Bảng 3: Lượng sắn lát xuất khẩu theo thị trường năm 2018 (tấn)

Nước nhập

3

4

5

6

7

Tổng

China

145,315

51,424

27,428

29,347

4,677

502,374

Korea (Republic)

13,000

 

20,158

1,740

14,393

51,725

Malaysia

220

       

220

Tổng

158,534

51,424

47,586

31,087

19,070

554,318

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quản

Xuất khẩu tinh bột sắn trong tháng 07/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước

Tương tự với sắn lát, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam trong tháng 07/2018 cũng tiếp tục giảm mạnh khi sản lượng xuất khẩu chỉ đạt trên 93 nghìn tấn, giảm trên 45 nghìn tấn so với tháng 6 và thấp hơn tới 35,9% so với cùng kỳ năm 2017. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 1,02 triệu tấn, giảm 20,7% (tương đương khoảng 268.000 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Tháng

2017

2018

TT 2018/2017 (%)

1

123,014

222,883

81.2

2

248,330

81,310

-67.3

3

283,493

173,036

-39.0

4

177,730

145,493

-18.1

5

142,321

171,916

20.8

6

174,329

138,816

-20.4

7

145,658

93,397

-35.9

8

150,812

   

9

200,310

   

10

182,561

   

11

211,463

   

12

223,655

   

Tổng

2,263,676

1,026,851

 

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Hình 4: Lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam năm 2017-2018 (tấn)

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn nhất của Việt Nam trong năm 2018 với tổng khối lượng nhập khẩu tính đến hết tháng 7 đạt 912,8 nghìn tấn, chiếm 88% thị phần. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2017, tổng khối lượng tinh bột sắn xuất sang thị trường này đã giảm tới 17,8%, tương đương giảm gần 200.000 tấn.

Sau Trung Quốc, nhu cầu tiêu thụ tinh bột sắn của những thị trường truyền thống khác cũng có sự suy giảm rất mạnh so với cùng kỳ năm trước, trong đó Indonesia giảm 36,9%, Malaysia giảm 37,7%, Philippines giảm 46,5% và Đài Loan giảm 26,9% .Trong Top 10 thị trường nhập khẩu tinh bột sắn lớn nhất của Việt Nam, đáng chú ý nhất phải kể đến Pakistan khi nhu cầu tiêu thụ của thị trường này tăng vọt với tổng sản lượng nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2018 đạt trên 11.000 tấn, cao gấp 13 lần so với cùng kỳ năm 2017 và ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong tất cả các thị trường.

Bảng 5: Lượng tinh bột sắn xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường trong năm 2018 (tấn)

Thị trường

3

4

5

6

7

Tổng

China

150,349

131,131

155,306

127,228

81,722

912,857

Indonesia

7,000

2,204

798

1,676

2,916

23,980

Malaysia

2,570

5,449

5,451

1,854

1,635

21,911

Philippines

5,810

1,777

4,197

1,606

801

21,037

Taiwan

4,168

2,424

5,411

1,525

422

19,318

Pakistan

1,475

1,042

3,296

1,796

1,754

11,667

Chile

 

576

 

1,537

978

4,500

Korea

307

255

208

374

1,711

2,855

Papua New Guinea

15

190

190

595

1,990

USA

463

328

346

103

263

1,969

Singapore

198

39

 

36

 

1,875

Lithuania

 

200

980

532

93

1,843

South Africa

247

 

76

 

171

1225

India

         

1216

Khác

449

354

1,427

359

335

4,677

Tổng

173,036

145,793

177,686

138,816

93,397

1,032,920

Nguồn: AgroMonitor tổng hợp từ số liệu hải quan

3. Giá cả

3.1. Sắn lát

Sang tháng 7, mì lát chỉ còn đưa về một số kho tại khu vực Quy Nhơn với giá mua dao động từ 4.700-4.800 đồng/kg, tuy nhiên do lượng mì lát còn tồn trên nguồn Gia Lai rất ít nên mì chỉ còn đưa về lai rai 1-2 xe/ngày.

Tại khu vực Tây Ninh và Bình Phước, tất cả các kho đã dừng mua hàng do mì lát từ Campuchia không còn được đưa về.

Tồn kho mì lát khu vực Sơn La hầu như không còn do các đơn vị còn hàng hầu hết đã bán đi các nhà máy tinh bột sắn để nghiền ra trộn cùng củ tươi làm tinh bột sắn với giá khoảng 4.950 đồng/kg tại kho.

Hình 5: Diễn biến giá sắn lát khô nội địa dành cho xuất khẩu trong năm 2016-2018 (đồng/kg) (hàng xô thường)

Nguồn: Cơ sở dữ liệu AgroMonitor

3.2. Sắn củ tươi

Trong nửa đầu tháng 7, nguồn cung mì nội vùng tăng rất mạnh do mưa lớn kéo dài gây ngập lụt nghiêm trọng tại một số vùng mì trồng đất thấp của tỉnh Tây Ninh, đặc biệt là tại huyện Gò Dầu và huyện Bến Cầu. Theo đó, giá mì củ liên tiếp được điều chỉnh giảm về mức 2.700 đồng/kg, tức giảm từ 400-600 đồng/kg so với tuần cuối tháng 6. Tuy nhiên, kể từ đầu tuần này, nhiều nhà máy tinh bột sắn tại Tây Ninh bắt đầu chạy lại sau nhiều tháng nghỉ bảo dưỡng khiến nhu cầu mua mì nguyên liệu tăng cao, giá mua vào của các nhà máy liên tục được điều chỉnh tăng mạnh trở lại về mức phổ biến từ 3.100-3.300 đồng/kg tùy nhà máy và chất lượng mì.

Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên, theo nhận định của thương nhân, khả năng các nhà máy sẽ hoạt động trễ tầm 1 tháng so với năm trước do nguồn cung mì trồng 2 năm giảm mạnh trong khi mì trồng đầu năm thì chưa đủ độ bột để thu hoạch. Do diện tích trồng sắn tại Tây Nguyên được mở rộng đáng kể trong năm 2018 trong khi nhu cầu hom giống khan hiếm khi hom từ Tây Nguyên được gom xuất đi Campuchia khá nhiều dẫn tới 1 số vùng tại Krongbong lấy hom từ Tây Ninh về trồng. Theo ghi nhận của thương nhân, một số vùng trồng sắn tại Daklak đang ghi nhận có dịch khảm lá do bị lây từ hom khu vực Tây Ninh đưa về.

Hình 6: Diễn biến giá thu mua mì củ tươi nguyên liệu tại một số địa phương cho sắn vụ mới năm 2016-2018 (đồng/kg)

Nguồn: CSDL AgroMonitor

QUỐC TẾ

1. Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc trong tháng 07/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do tỉ lệ vận hành của các nhà máy cồn đạt thấp và đồng nhân dân tệ mất giá mạnh

Theo số liệu thống kê của Hải quan Trung Quốc, nhập khẩu sắn lát của nước này trong tháng 7/2018 chỉ đạt 190.000 tấn, giảm 30.000 tấn so với tháng 6 và thấp hơn tới 400.000 tấn so với tháng 7/2017. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2018, tổng khối lượng sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc mới đạt trên 3,46 triệu tấn, giảm hơn 1,2 triệu tấn so với cùng kỳ năm 2017. Tỉ lệ vận hành của các nhà máy cồn tại Trung Quốc vẫn rất thấp, cộng với động thái xả mạnh kho ngô dự trữ của chính phủ Trung Quốc khiến nguồn cung ngô ra thị trường tăng mạnh, làm giảm nhu cầu mua sắn lát.

Ngoài ra, căng thẳng Mỹ - Trung leo thang và việc điều chỉnh tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã khiến đồng nhân dân tệ liên tục mất giá so với đô la Mỹ, giá hàng hóa nhập khẩu về Trung Quốc trở nên đắt đỏ hơn nên các nhà nhập khẩu Trung Quốc rất thận trọng khi đưa ra quyết định mua. Tính từ đầu tháng 4/2018, đồng nhân dân tệ đã mất tới hơn 10% giá trị so với đồng USD, kéo tỷ giá USD/CNY vượt ngưỡng 6,934 tệ đổi 1 đô la vào ngày 15/8/2018, ghi nhận mức thấp nhất kể từ tháng 1/2017 trở lại đây. Và tính từ đầu năm 2018, đồng tệ đã mất giá gần 7%. Việc đồng nhân dân tệ giảm giá mạnh kể từ tháng 4 đến này được coi như một biện pháp mà chính phủ Trung Quốc áp dụng nhằm hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của nước này trong bối cảnh căng thẳng thương mại leo thang với Mỹ. Tuy nhiên, đối với những nước xuất khẩu hàng hóa nhiều vào Trung Quốc lại đang phải chịu thiệt hại khá lớn do biến động tỷ giá khi các nhà nhập khẩu của nước này cân nhắc nhập khẩu hàng hóa trong thời điểm này.

Bảng 6: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Tổng

Thái Lan

Việt Nam

2016

1

620.2

 

 

2

720.6

535.8

155.2

3

963.4

747.4

206.5

4

743.1

 

 

5

706.2

562.7

125.5

6

755.3

605.9

135.1

7

462.0

416.0

35.6

8

301.7

231.8

68.0

9

575.3

511.0

62.6

10

410.4

357.7

52.7

11

519.0

468.4

47.0

12

644.2

597.6

34.5

2017

1

594.0

 

 

2

580.5

474.9

104.7

3

981.8

812.2

169.3

4

830.0

638.0

190.5

5

594.9

513.2

79.6

6

494.9

394.2

98.8

7

589.0

441.8

137.3

8

400.5

306.7

93.8

9

820.2

710.9

109.2

10

536.5

435.6

96.7

11

685.2

583.8

99.8

12

735.1

601.9

132.4

2018

1

750.0

 

 

2

600.0

481.6

89.7

3

750.0

504.0

145.3

4

630.0

 

 

5

320.0

 

 

6

220.0

 

 

7

190.0

 

 

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

2. Nhập khẩu cồn của Trung Quốc đạt mức cao kỷ lục trong quý I/2018

Theo số liệu thống kê của hải quan Trung Quốc cho thấy, lượng cồn nhập khẩu của nước này tiếp tục tăng mạnh trong tháng 2 và tháng 3, đưa tổng khối lượng cồn nhập về Trung Quốc trong quý I năm 2018 đạt con số cao kỷ lục, gần 495 triệu lít, gấp 20 lần so với lượng nhập khẩu của cả năm 2017. Trong đó, lượng cồn biến tính chiếm tới 424,4 triệu lít (gần như 100% được nhập từ Hoa Kỳ) và tổng lượng cồn 80% trở lên nhập khẩu trong quý I/2018 đạt trên 70,3 triệu lít (có tới 99,9% lượng cồn được nhập từ Pakistan). 5 trong số 7 tỉnh có lượng nhập khẩu lớn nhất đều thuộc khu vực Đông Bắc Trung Quốc, trong đó tỉnh Giang Tô nhập khẩu nhiều nhất với hơn 264,9 triệu lít, tiếp đến là tỉnh Quảng Đông (98,6 triệu lít), Sơn Đông (46,3 triệu lít), Bắc Kinh (43,8 triệu lít), Vân Nam (38,4 triệu lít), An Huy (37,3 triệu lít) và Thượng Hải là 12,5 triệu lít.

Bảng 7: Lượng cồn nhập khẩu của Trung Quốc theo tháng năm 2015-2018 (lít)

Năm

Tháng

Ethanol biến tính

Ethanol 80% trở lên

2015

1

22,178

62,287

2

4,280

3,772,961

3

20,231

3,739,660

4

7,128

7,434,330

5

11,266

21,148,260

6

519,281

15,513,947

7

20,325,762

48,751,228

8

12,471,049

41,058,859

9

98,350,878

23,273,830

10

30,971,172

37,990,163

11

13,143,977

4,427,230

2016

1

46,978,869

14,089

2

44,740,682

7,587

3

99,645,100

15,892

4

49,361,191

3,780,354

5

259,736,222

3,651,639

6

104,536,085

7,115,133

7

21,054,908

3,583,610

8

38,468,782

3,514

9

10,096,973

24,239

10

1,187,523

3,914

11

71,207,152

103,392

12

124,816,169

7,133

2017

1

3,765

2,411,207

2

5,096

4,210

3

16,079

16,957

4

4,030

19,056

5

3,738

5,507

6

2,436

12,333

7

5,035

282,714

8

3,767,797

328,270

9

4,681

411,038

10

4,868,181

6,292,080

11

9,858

6,456,437

12

7,123

25,916

2018

1

91,287,203

29,415,154

2

189,038,154

8,613,733

3

144,122,319

32,345,961

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp từ hải quan Trung Quốc

3. Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan trong tháng 7/2018 tiếp tục giảm mạnh so với tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua từ Trung Quốc yếu

Theo số liệu từ hải quan Thái Lan cho thấy, xuất khẩu sắn lát của nước này tiếp tục giảm mạnh trong tháng 7/2018 khi chỉ đạt 116,2 nghìn tấn, giảm 38% so với tháng trước và giảm tới 80% (tương đương giảm khoảng 436 nghìn tấn) so với cùng kỳ tháng 7/2017. Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sắn lát của Thái Lan mới chỉ đạt trên 2,74 triệu tấn, giảm hơn 1 triệu tấn so với cùng kỳ năm trước.

Đối với tinh bột sắn, khối lượng xuất khẩu trong tháng 7/2018 của Thái Lan cũng chỉ đạt trên 166 nghìn tấn, giảm nhẹ so với tháng trước nhưng giảm tới 28% so với cùng kỳ năm 2017. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng khối lượng xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan cũng đạt con số khá khiêm tốn là 1,49 triệu tấn, giảm khoảng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Bảng 8: Xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn của Thái Lan năm 2016-2018 (nghìn tấn)

Năm

Tháng

Sắn lát

Tinh bột sắn

2016

1

530.6

269.7

2

617.1

358.2

3

680.0

369.2

4

554.3

255.2

5

686.4

218.6

6

414.3

171.8

7

349.3

161.0

8

409.4

247.2

9

349.9

256.3

10

354.4

307.6

11

791.6

303.5

12

668.9

297.8

2017

1

452.3

281.4

2

722.2

246.5

3

699.3

250.1

4

532.3

201.3

5

456.9

270.4

6

356.4

274.1

7

552.5

230.9

8

416.7

245.1

9

417.3

220.3

10

596.9

267.3

11

546.3

257.7

12

617.3

301.1

2018

1

683.4

259.0

2

481.7

273.3

3

504.0

288.1

4

490.4

166.9

5

281.3

164.2

6

187.4

170.0

7

116.2

166.2

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

Chào giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan có xu tăng trở trong nửa đầu tháng 7 đạt mức 240 khi lượng tồn kho nội địa đạt thấp, tuy nhiên sang đến nửa cuối, giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan đã được điều chỉnh giảm trở lại về quanh mức 230 USD/tấn FOB nhằm thu hút các nhà nhập khẩu Trung Quốc trong bối cảnh đồng nhân dân tệ mất giá mạnh và tỷ giá đồng Baht Thái so với đô la Mỹ cũng quay đầu giảm mạnh kể từ tháng 4/2018 sau hơn 1 năm liên tục tăng giá được coi như một yếu tố hỗ trợ tích cực cho hoạt động xuất khẩu của nước này.

Đối với tinh bột sắn, chào giá xuất khẩu của Thái Lan vẫn tiếp tục điều chỉnh giảm trong tháng 7 khi các doanh nghiệp sản xuất tinh bột sắn của nước này muốn đẩy mạnh bán ra để giải phóng kho, chuẩn bị cho vụ sắn mới, đồng thời nhân dân tệ và bath Thái cùng mất giá so với đô la Mỹ. Tính đến cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm 2018, chào giá xuất khẩu tinh bột sắn của Thái Lan giảm còn cao nhất 485 USD/tấn FOB, giảm 30 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước nhưng vẫn cao hơn tới 165 USD/tấn so với mức 320 USD/tấn FOB của cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, theo tin từ các thương nhân cho biết, giá bán tinh bột sắn của Thái Lan về Trung Quốc thực tế giảm còn dưới mức 450 USD/tấn, tức thấp hơn rất nhiều so với mức giá chào của hiệp hội.

Hình 7: Diễn biến giá sắn lát và tinh bột sắn xuất FOB của Thái Lan năm 2016-2018 (USD/tấn FOB, giá chào bán)

Nguồn: AgroMonitor Tổng hợp

TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG

Sang tháng 8, dự kiến nhiều nhà máy cồn tại Trung Quốc sẽ chạy lại sau thời gian dài nghỉ bảo dưỡng, qua đó nhu cầu mua sắn lát nguyên liệu sẽ được đẩy tăng. Ngoài ra, giá cồn nội địa tại Trung Quốc cũng liên tục được điều chỉnh tăng trong 3 tuần gần đây với cả 3 loại: cồn từ ngô, sắn và mật rỉ đường do nguồn cung cồn nội địa lẫn nhập khẩu giảm mạnh. Giá xuất khẩu sắn lát được nhận định sẽ phục hồi khá tích cực trong 2 tháng 8 và tháng 9 khi nhu cầu mua từ thị trường Trung Quốc tăng mạnh, phục vụ cho nhu cầu sản xuất tăng vào những tháng cuối năm. Tuy nhiên, đà tăng giá xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sẽ chậm lại sau động thái điều chỉnh giảm tiếp giá chào xuất khẩu về quanh mức 230-235 USD/tấn FOB của Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan.

Đối với tinh bột sắn, xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam có dấu hiệu khởi sắc khi nhu cầu hỏi mua tinh bột từ phía Trung Quốc tăng trở lại. Tuy nhiên, do khan hiếm về nguồn cung nguyên liệu và giá sắn luôn duy trì ở mức cao khiến các doanh nghiệp sản xuất tinh bột sắn gặp nhiều khó khăn trong việc lên kế hoạch sản xuất và tiêu thụ, trong bối cảnh chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc liên tục leo thang.

 

Tin miễn phí